
46 QUẺ ĐỊA PHONG THĂNG
Trên là Khôn (đất), dưới là Tốn (gió)

Nhóm hợp lại thì tất nhiên chồngchất mãi lên, cao nên sau quẻ Tụy đến quẻ thăng( lên)
Thoán từ:
Thăng nguyên hanh, dụng kiến đại nhân, vật tuất nam chinh cát
Dịch: Lên: rất hanh thông, phải dùng người có tài đức (đại nhân), không có gì là lo ngại, cứ tiến về phái rước thì tốt.
Giảng: Tốn là gió mà cũng là cây. Ơû đây hiểu là cây. Cây mọc ở dưới đất, mỗi ngày mỗi đâm lên cao, cho nên gọi là quẻ Thăng.
Cũng có thể hiểu: Khôn vốn là âm nhu mà tiến lên ngoại quái là vì ở thời điểm tiến lên thì nên như vậy chứ bình thường thì dương mới thăng mà ân thì giáng. Tốn có tính nhún, Khôn có tính thuận; lại thêm hào 5 có đức nhu và trung, ứng với hào 2 có đức dương cương, cho nên rất hanh thông. Phải dùng người có tài đức (hào 2) thì mới không có gì lo ngại. “Nam chinh” là tiến về phía trước mặt chứ không có nghĩa là tiến về phiá Nam
Đại tượng truyện khuyên xem quẻ này nên thuận đạo mà sửa đức, mỗi ngày một chút lần lần sẽ rất cao (tích tiểu dĩ cao đại)
Hào từ:
Sơ lục: doãn thăng, đại cát
Dịch: Hào 1 âm: Có lòng tin mà tiến lên , rất tốt
Giảng: Hào này âm nhu, ở dưới cùng làm chủ nội quái Tốn, là co đức khiêm tốn, nhu thuận, theo sau hai hào dương (2 và 3) mà nhờ hai hào đó dắt lên , rất tốt. “Doãn” nghĩa là tin một tin 2 và 3, mà 2 và 3 cũng tin 1 . Tiểu tượng truyện gọi như vậy là hợp chí nhau
Cửu nhị: bầu, nãi lợi dụng thược, vô cữu.
Dịhc: hào 2 dương,: tin nhau có lòng chí thành chỉ dùng lễ nhỏ cũng được không có lỗi
Giảng: hào 2 này dương cương mà ở dưới, hào 5 âm nhu mà ở vị cao; hai bên khác nhau như vậy màứng với nhau là rất tin nhau, cảm nhau bằng lòng chí thành, hợp tác với nhau làm nên sự nghiệp ờ thời “thăng”. Đã có lòng chí thành thì lễ vật rất đơn sơ cũng được không có lỗi
Cửu tam: thăng, hư ấp
Dịch: Hào 3 dương: lên dễ dàng như vào cái ấp không người
Giảng: hào này đác chính, có tài, ở trên cùng nội quái là Tốn, có đức thuận theo ba hào âm ở trên, được ba hào này dắt lên một cách dễ dàng, như vào một cái ấp không có ai ngăn cản không có gì trở ngại cả.
Lục tứ: vương dụng hanh vu kì Sơn, cát vô cữu
Dịch : Hào 4 âm : vua văn vương dùng đạo mà hanh thịnh ở núi Kì Sơn, tốt, không có lỗi
Giảng : Hào này nhu thuận, đắc chính, ở ngay dưới hào 5, như vua có một nước chư hầu, giúp thiên tử, dắt các người hiền cùng tiến lên; đó là trường ho85p vua Văn vương, một chư hầu dưới thời nhà Aân, lập nên nghiệp ở Kì Sơn
Lục ngũ : Trinh cát, thăng giai
Dịch : Hào 5 âm : Giữ được đạo chính thì tốt, dễ dàng lên thềm
Giảng : Hào này tuy âm nhu nhưng đắc trung, ở dưới có hào 2 hiền thần giúp, nên dễ dàng đắc chí, lên thềm cao một cách dễ dàng (lập được sự nghiệp)
Thượng lục : Minh thăng, lợi vu bất tức chi trinh
Dịch: Hào trên cùng âm : Hôn ám cứ muốn lên hoài, nếu sửa đức cho hợp đạo chính, không bao giờ nghĩ thì có lợi
Năm hào dưới đều tốt, chỉ có hào trên cùng là xấu vì quá tham, cứ muốn tiến lên hoài về địa vị danh lợi
47 . QUẺ TRẠCH THỦY KHỐN
Trên là Đoái (chằm), dưới là Khảm (nước)

Lên cao mãi thì có lúc sẽ té mà khốn, cho nên sau quẻ Thăng tới quẻ Khốn
Thoán từ :
Khốn : Hanh. Trinh, đại nhân cát vô cữu. Hữu ngôn bất thân (chữ
Dịch : Khốn : Hanh thông. Chíng đính như bậc đại nhân (có đức) thì tốt, không lỗi. Dù nói gì cũng không bày tỏ được lòng mình (không ai nghe mình).
Giảng: quẻ Khảm là dương ở duối, quẻ Đoái là âm (1) ở trên, dương cương (quân tử( bị âm nhu 9tiểu nhân) che lấp, cho nên gọi là Khốn
(1) Nên nhớ: đơn quái nào có hào dương thì là dương, có hào âm thì âm.
Lại thêm: nội qúai một hào dương bị kẹt giưã hai hào âm; ngoại quái hai dương ở dưới một hào âm, cùng là cái tượng quâ tử bị tiểu nhân làm khốn.
Một cách giảng nữa: chằm (đoái) ở trên mà Khảm (nước ở dưới), nước trong chảy xuống dưới, tiết mất hết, chằm sẽ khô, thành ra cái tượng Khốn
Tuy nhiên, Khảm là hiểm, Đóai là hoà duyệt, vậy tuy gặp hiểm mà vẫn vui vẻ hanh thông. Hanh thông chỉ đố ivới bậc đại nhân có đức cương, trung, giữ vững đạo chính thôi, vì hạng người đó gặp cảnh khốn, tài càng được luyện, đức càng được trau, chí càng vững dù có phải hy sinh tính mệnh để thoả chí nguyện cũng khôngngại, thân tuy khốn mà vẫn vui vẻ, đạo của họ vẫn hanh thông, cho nên Hào từ cho là tốt, không có lỗi.
Ơû thời Khốn, chỉ có cường quyền, không có công ly ùnên đừng nói gì cả, càng nói chỉ càng thêm vạ miệng, không biện bạch được gì đâu. Đây là lời khuyên chung, còn bậc quân tử có thể “sát thân dĩ thanh nhân” thì lại khác
Hào từ:
Sơ lục: Đồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc.
tam tuế bất dịch
Dịch: Hào 1, âm: Bàn toạ bị khốn ở gốc cây, lại sụp vào trong hang tối, ba năm không thấy ai.
Giảng: Hào này ở đầu quẻ Khốn, âm nhu, mê muội; hào 4, dương ứng với nó, bất trung bất chính không giúp gì được nó; như một người ngồi cây trụi trồi gốc ra (ý nói ở hào nào dầu, thấp nhất), rổi lại sụp vào hang tối (hào này âm, nhu mê mụôi) mà không thấy ai lại cứu (ai đây trỏ hào 4)
Cửu nhị: Khốn vu tửu thực, chu phất lai,
Lợi dụng hưởng tự, chinh hung, vô cữu
Dịch: Hào 2 dương: Khốn về rượu, thịt (ăn uống no nê), cái “phất” đỏ tối, nên đem lòng tinh thành mà cúng tế; tiến hành thì xấu, giữ đạo thì không có lỗi.
Giảng: Hào này dương cương, đắc trung, đáng lẽ tốt, nhưng ở thời Khốn cũng vẫn bị khốn vì ăn uống, do ơn vua lộc nuớc; được người trên ứng hợp lại nhờ giúp (ở đây tượng trưng bằng việc đem trái “phất” đỏ, một bộ phận lễ phục để che đầu gối); nên đem lòng tin thành để tế thần linh mà xử sự trong thời khốn này; nếu cứ tiến hành thì không gặp thời, xấu; giữ đạo thì không có lỗi.
Lục tam: Khốn vu thạch, cứ vu tật lê,
nhập vu kì cung, bất kiến kì thê, hung
Dịch: hào 3, âm: Như người bị khốn vì đá, mà lại dựa vào cây tật lê, vô nhà thì không thấy vợ xấu.
Giảng: Hào này bất trung, bất chính, âm nhu ở thời khốn, ở trên cùng nội quái là Khảm, tức ở cảnh cực hiểm, tấn thoái đều không được nên ví với người bị đá dằn ở trên (tức hào 4). Mà lại dựa vào một cây gai (tật lê- tức hào 2), vô nhà lại không thấy vợ (tức hào trên cùng cũng âm nhu, không giúp 3 được gì), rất xấu.
Theo hệ từ truyện chương V, Khổng tử thích nghĩa thêm như sau:
“Không phải chỗ đáng bị khốn mà mình bị khốn thì danh ắt bị nhục, không phải chỗ đáng dựa mà mình dựa vào thì thân tất bị nguy; đã bị nhục lại bị nguy thì sắp chết tới nơi rồi, còn thấy sao được vợ nữa?”
Cửu tứ: Lai từ từ, Khốn vụ kim xa, lận, hữu chung.
Dịch: Hào 4, dương: (bạn mình) lại chậm vì bị cỗ xe bằng kim khí chặn (khốn) có điều ân hận, nhưng được trọn vẹn về sau.
Giảng: Hào này dương cương, nhưng bất trung, bất chính, ở vào Khốn, trông vào hào 1 (ứng với nó) tới giúp; nhưng 1 không tới mau được vì bị hào 2 chặn ở giữa (hào 2 này ví với cỗ xe bằng kim khí, có lẽ vì 2 dương cương, mà kim khí là chất cứng chăng cho nên có điều đáng ân hận, xấu hổ; nhưng cuối cùng vẫn liên hợp được với 1 vì hai bên đều dốc lòng ứng với nhau (4 là dương, 1 là âm).
Cửu ngũ: Tị nguyệt khốn vu xích phất,
nãi từ hữu duyệt, lợi dụng tế tự.
Dịch: Hào 5, dương: Bị xẻo mũi, cắt chân, khốn vì cái “phất” đỏ: thủng thẳng sẻ vui, nên dùng lòng chí thành lúc cúng tế (mà xử và thời Khốn)
Giảng: Hào dương ở vị chí tôn, có tài đức, nhưng ở vào thời Khốn, người chung quanh mình và ở dưới mình đều bị khốn cả, lại thêm hào trên cùng là âm muốn đè ép quanh mình, hào 4 dương cương ở dưới tính làm hại mình, ngay đến hào 2 đã đem cái “phất” đỏ cho nó, nhờ nó giúp, nó cũng chỉ làm cho mình thêm khốn, như vậy mình không khác gì kẻ bị thương ở mũi (xẻo mũi), ở chân (cắt chân); nhưng 5 và 2 cùng có đức cương trung thì rồi sẽ hợp với nhau, cứ chí thành thì sẽ hanh thông, vui.
Thượng lục: Khốn vu cát lũy, vu niết ngột;
viết động hối, hữu hối, chinh cát.
Dịch: Hào trên cùng, âm: Bị khốn vì dây sắn dây leo khập khễnh, gập ghềnh; tự hỏi rằng: hoạt động thì ân hận chăng? Biết suy nghĩ như vậy thì hành động sẽ tốt.
Giảng: Hào này ở cuối thời Khốn, như người bị buộc chằng chịt trong đám dây sắn dây leo, mà lại đi đứng trong chỗ khập khễnh, gập ghềnh; nhưng khốn tới cùng cực rồi thì sẽ thông, cho nên, nếu thận trọng, biết ăn năn thì sẽ tốt.
*
So sánh ba quẻ Truân, Kiển, Khốn
Quẻ Truân là đầu thời khó khăn, còn có thể hành động chút ít để cứu vãn thời thế được. Quẻ Kiển là giữa thời có khó khăn, nên chờ thời, không làm gì hết, hoặc có vì bổn phận mà làm thì cũng khó có kết quả.
Tới quẻ Khốn, thời khó khăn lên tới tột điểm, 5 hào xấu (Khốn, lận) chỉ có hào cuối cùng mới tốt, đành phải chờ thời, giữ đức trung, chính, lòng chí thành mới qua được cơn khốn.
48. QUẺ THỦY PHONG TỈNH
Trên là Khảm (nước), dưới là Tốn (gió)

Lên (Thăng) tới cùng thì bị khống, mà té xuống dưới, cho nên sau quẻ Khốn tới quẻ Tỉnh (giếng, tức chỗ thấp hơn hết).
Thoán từ:
Tỉnh: Cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh
Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, luy kì bình, hung.
Dịch: Giếng: Đổi ấp chứ không đổi giếng, nước giếng không kiệt mà cũng không thêm; người qua người lại để múc nước giếng. Gần đến nơi (đến giếng), chưa kịp thòng dây gàu xuống mà bể cái bình đựng nước, thì xấu.
Giảng: Theo tượng quẻ, trên là nước (Khả), dưới là gỗ (Tốn ở đây không hiểu là gió mà hiểu là cây, là đồ bằng gỗ – trỏ cái gàu), có nghĩa là thòng cái gàu xuống nước để múc lên.
Theo hình của quẻ: dưới cùng là một hào âm, như mạch nước, rồi tiếng lên là hai hào dương, như lớp đất ở đáy giếng; tiến lên nữa là hào âm, tức nước giếng, lòng giếng; trên nữa là một vạch liền, tức cái nắp giếng; trên cùng là một vạch đứt, tức miệng giếng.
Đại tương truyện giảng một cách khác: nước (Khảm) ở trên cây (tốn), tức là nhữa (nước từ dưới đất theo thân cây lên) ở ngọn cây, cũng như mạch nứoc ở trong giếng, chảy ra, cho nên gọi là quẻ Tỉnh.
Bản thể của cái giếng là ở đâu thì ở đấy, ấp còn có khi thay đổi, chứ giếng thì cố định; có nước mạch chảy vô giếng hoài, nên nước giếng không kiệt, nhưng nước giếng chỉ lên tới một mực nào đó, không khi nào tràn ra. Công dụng của giếng là ai cũng lại giếng để lấy nước (tỉnh tỉnh: chữ tỉnh trên là động từ, chữ tỉnh dưới là danh từ), kẻ qua người lại thường, người nào cũng nhờ nó mà có nước, nó giúp đỡ mọi người mà như vô tâm.
Nói về nhân sự thì người đi lấy nước đã gần tới rồi, chưa kịp thòng dây gàu (duật) xuống, mà đánh vỡ cái bình đựng nước thì thật uổng công; vậy làm việc gì cũng phải cẩn thận, đến nơi đến chốn để khỏi thất bại nửa chừng.
Thoán truyện bảo giếng ở đâu ở đấy, không thay đổi như ấp, vậy là có đức cương trung của hào 2 và hào 5.
Đại tượng truyện khuyên người quân tử nên coi tượng cái giếng mà nuôi dân và chỉ cho dân cách giúp đỡ lẫn nhau.
Hào từ:
Sơ lục: Tỉnh nê, bất thực, cựu tỉnh vô cầm.
Dịch: Hào 1, âm: Giếng lầy bùn, không ai lại lấy nước; không có con vật nào lại một giếng cũ.
Giảng: Hào 1 âm nhu, ở địa vị thấp nhất, hào 4 ở trên cũng không giúp gì nó, chính là hạng người vô dụng, bất tài, nên ví như cái giếng không có mạch, bị bùn, không ai lại lấy nước, chim muông cũng không tới.
Cửu nhị: Tỉnh cốc, xạ phụ, ủng tệ lậu.
Dịch: Hào 2, dương: Giếng ở trong hang (có người hiểu là giếng có cái hang), nước chỉ lách tách ít giọt bắn vào con giếc, như cái chum nứt, nước rỉ ra.
Giảng: Hào này dương cương, có tài hơn hào 1, nhưng địa vị cũng thấp, trên cũng không có người ứng viện cho, nên cũng không làm nổi việc đời, ví như cái giếng nước tuy trong, nhưng nước mạch ít, chỉ rỉ ra đủ nuôi con giếc, chứ không có người tới múc. Hào này khác hào 1 ở chỗ 1 vì bất tài mà vô dụng, hào này vì hoàn cảnh mà hoá vô dụng.
Cửu tam: Tỉnh tiết bất thực, vi ngã tâm trắc;
khả dụng cấp; vương minh, tịnh thụ kì phúc.
Dịch: Hào 3, dương: Giếng trong mà chẳng ăn, để lòng ta thương xót, có thể dùng mà múc lên được; gặp ông vua sáng suốt thì mọi người đều được phúc.
Giảng: Hào dương này đắc chính, là người có tài, nhưng địa vị còn ở thấp (nội quái), không được dùng, ví như cái giếng nước trong mà không ai múc. Nếu được ông vua sáng suốt dùng, thì người đó sẽ giúp cho mọi người được nhờ.
Lục tứ: Tỉnh trứu, vô cứu
Dịch: Hào 4, âm: Giấng mà thành và đáy xếp đá, không có lỗi.
Giảng: Hào này âm nhu, tài tầm thường nhưng đắc chính, ở gần hào 5 chí tôn, nên nhờ 5 mà làm được việc nhỏ, không có lỗi, ví như cái giếng mạch không nhiều, nhưng xếp đá ở thành và đáy, thì nước mạch thấm vào, lắng lại, cũng tạm dùng được.
Cửu ngũ: Tỉnh liệt, hàn tuyền thự.
Dịch: Hào 5, dương: Nước giếng trong, lạnh, múc lên ăn được.
Giảng: Hào này dương cương, đắc trung, ở ngôi chí tôn, có ân trạch với dân chúng, nên ví với nước giếng vừa trong vừa mát, lại múc lên được.
Thượng lục: Tỉnh thu, vật mạc, hưu phu, nguyen cát.
Dịch: Hào trên cùng, âm: Nước giếng múc lên rồi, đừng che đậy, cứ mãi mãi như vậy, không thay đổi thì rất tốt.
Giảng: Hào trên cùng này tuy là âm nhu, nhưng ở cuối cùng quẻ Tỉnh, nó có cái tượng nước giếng đã múc lên rồi, nên để cho mọi người dùng, chứ đừng che đậy, và cứ như vậy giúp đời mãi thì không gì tốt bằng.
*
Chúng ta để ý, quẻ Tỉnh này có điểm đặc biệt là các hào càng lên cao càng tốt, tốt nhất là hào trên cùng.
Thường các quẻ khác, hào trên cùng có nghĩa là cùng cực: hễ là quẻ tốt như quẻ Càn, quẻ Thái thì hào trên cùng xấu; nếu là quẻ xấu như quẻ Bĩ, quẻ Khốn thì hào trên cùng tốt, vì luật: cực thì phải biên, tốt biến ra xấu, xấu biến thành tốt. Quẻ Tỉnh này với quẻ Đỉnh (và một số quẻ nữa như quẻ Tiệm...), hào trên cùng không có nghĩa là cùng cực, mà có nghĩa là lúc cuối (chung), lúc nước đã múc lên (Tỉnh) hoặc thức ăn đã chín (Đỉnh), tức là lúc thành công, cho nên đều tốt cả.
49. QUẺ TRẠCH HỎA CÁCH
Trên là Đoái (chằm), dưới là Li (lửa)

Nước giếng tích trữ lâu ngày, bụi cát và các vật dơ mỗi ngày mỗi nhiều, không còn trong sạch nữa, phải tát hết nước cũ để nước mạch mới chảy vảo thay, cho nên sau quẻ Tỉnh tới quẻ Cách. Cách có nghĩa là thay đổi, như trong từ ngữ cải cách, biến cách, cách mạng.
Thoán từ
Cách: Dĩ nhật nãi phu, nguyên hanh lợi trinh. Hối vong.
Dịch: Thay đồi: phải lâu ngày người ta mới tin được, phải rất hanh thông, hợp chính đạo (thì người ta mới phục). Được vậy thì không phải ăn năn.
Giảng: Theo tượng quẻ, chằm (Đoái) ở trên, lửa (Li) ở dưới; lửa đốt thì nước cạn, nước xối vào thì lửa tắt; hai thứ có tranh nhau thì có sự thay đổi, cho nên gọi là quẻ Cách.
Lại có thể giảng: Đoái là con gái út, Li là con gái giữa, họ có xu hướng khác nhau (con gái út nghĩ tới cha mẹ, con gái giữa nghĩ tới chồng), phải có sự thay đổi, không thể như vậy mà ở chung với nhau được.
Thay cũ đổi mới là một việc khó, ngược với thói quen thủ cựu của con người, cho nên mới đầu người ta không tin, cho là đa sự. Muốn cho người ta tin thì phải một thời gian lâu để người ta thấy kết quả.
Mà muốn có kết quả, sự cải cách phải hợp thời chính đạo, phải sáng suốt, soi xét rạch ròi và có tính hoà duyệt thoả thuận với lòng người (văn minh dĩ duyệt: lời Thoán truyện), có vậy mới đắc nhân tâm mà người ta không phản kháng. Sáng suốt là đức của nội quái Li, hoà duyệt là đức của ngoại quái Đoái. Có đủ những điều kiện đó: hợp thời, hợp chính đạo (tức là chính đáng, thích đáng) sáng suốt và hoà duyệt thì không phải ăn năn.
Vua Thang diệt Kiệt, vua Võ diệt Trụ, hai cuộc cách mạng đó đều thuận với đạo trời (chính đạo) và ứng với lòng người (hợp thoi72, hợp nguyện vọng nhân dân) cho nên thành công. Trời đất phải thay đổi mới có được bốn mùa, mà vạn vật mới sinh sinh hoá hoá; việc đời lâu lâu cũng phải cải cách, để trừ những tệ hại cũ mà thích hợp với hoàn cảnh mới.
Hào từ
Sơ cửu: Củng dụng hoàng ngưu chi cách
Dịch: Hào 1, dương: bó chặt bằng da con bó vàng.
Giảng: Người nào muốn làm việc cải cách lớn thì phải có thời (hợp thời), có địa vị có tài. Hào 1 này mới ở vào buổi đầu của thời Cách (thay đổi), còn lỡ dở, thế là chưa có thời, địa vị lại thấp, tuy dương cương nhưng bất trung, thế là tài đức còn kém, trên không có người ứng viện (hào 4 cũng là dương); làm việc cải cách tất hỏng; chỉ nên giũ vững (bó chặt bằng) đạo trung (tượng trưng bằng màu vàng); thuận (đức của loài bò), thì mới khỏi bị lỗi.
Lục nhị: Dĩ nhật nãi cách chi, chinh cát, vô cữu.
Dịch: Hào 2, âm: chuẩn bị lâu ngày rồi cải cách, tiến độ thì tốt, không lỗi.
Giảng: Hào này nhu thuận, đắc trung đắc chính, ở giữa nội quái Li là sáng suốt, ở trên có hào 5 dương cương, trung chính, vị cao ứng viện cho, đủ tư cách, hoàn cảnh thuận tiện để cải cách (vì vị 2 này là cơ hội cải cách đã tới) cho nên cứ việc mà đi, miễn là chuẩn bị cho kỹ, để cho người trên kẻ dưới đều tin mình.
Cửu tam: Chinh hung, trinh lệ, cách ngôn tam tựu, hữu phu.
Dịch: Hào 3, dương: hăng hái tiến liều thì xấu, bền vững giữ đạo và thận trọng lo lắng, tính toán sắp đặt kế hoạch tới 3 lần thì kết quả mới chắc chắn.
Giảng: Hào này dương cương, bất trung, có tính nóng nảy, muốn làm liều, hăng hái tiến tới, hỏng việc (chinh hung). Phải giữ vững (trinh) đạo chính, thận trọng, lo lắng (lệ); phải sắp đặt, tính toán kế hoạch đến 3 lần, chắc không có gì khuyết điểm, thì kết quả mới chắc chắn (phu ở đây nghĩa là chắc chắn).
Cửu tứ: Hối vong, hữu phu, cải mệnh, cát.
Dịch: Hào 4, dương: Hối hận tiêu hết, có lòng chí thành, trên dưới đều tin theo, đổi mệnh (cải cách lớn) được, tốt.
Giảng: hào này dương ở vị âm, đáng lẽ có điều ăn năn, nhưng ở vào thời cải cách, không nên cương quá, cho nên tính cương mà vị nhu, vừa cương vừa nhu là tốt, không phải ân hận. Nếu có đủ lòng chí thành khiến người trên kẻ dưới đều tin mình, thì cứ việc tiến hành việc cách mệnh, tốt.
Cửu ngũ: Dại nhân, hổ biến; vị chiêm hữu phu.
Dịch: Hào 5, dương: Bậc đại nhân làm cho xã hội thay đổi như con hổ thay lông (mướn, đẹp hơn); chưa bói cũng đã tin như vậy rồi.
Giảng: Hào này có đủ cả thời (công cuộc cải cách đã được tám chín phần mười rồi vị (ở ngôi chí tôn); tài đức (dương cương, trung chính, đúng là một đại nhân) cho nên thành công mỹ mãn, làm cho xã hội thay đổi, tốt đẹp, mới mẻ lên như con hổ thay lông; dân chúng sẵn lòng tin cậy như vậy từ khi chưa bói.
Thượng lục: Quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện.
Chính hung, cư trinh, cát.
Dịch: Người quân tử (thực hiểu và theo sự cải cách như) con báo thay lông; kẻ tiểu nhân miễn cưỡng theo ngoài mặt. Công việc cải cách đến đây đã xong, nên ngừng lại, tiếp nữa thì xấu, cứ giữ vững chính đạo thì tốt.
Giảng: Hào này ở cuối cùng thời Cách, công việc cải cách đã xong. Kết quả là hạng người từ bậc trung trở lên, sáng suốt (quân tử) thực tâm tự thay cũ mà theo mới, còn người tư cách thấp kém (tiểu nhân) chỉ thay đổi bề ngoài thôi. Như vậy là kết quả tốt đẹp rồi, đừng cải cách hoài nữa mà sinh hậu hoạn, nên giữ chính đạo.
Phan Bội Châu chê Nã Phá Luân khi lật nền quân chủ của Pháp, khai quốc hội, lập hiến pháp rồi không chịu ngừng lại, còn xưng đế, rồi muốn chinh phục Châu Âu nữa, kết quả thân bị đày, danh bị huỷ.
*
Sáu hào quẻ này diễn đúng những giai đoạn từ bước đầu khó khăn đến lúc cải cách thành công.
Phải có đủ những điều kiện: hợp thời, hợp đạo, có địa vị, có tài đức, sáng suốt, rất thận trọng (tính toán, sắp đặt kế hoạch kỹ lưỡng ba lần), có lòng chí thành, tính hoà duyệt, được nhiều người tin thì làm công việc cải cáh lớn mới được. Cần nhất là được lòng tin, chí công vô tư.
50. QUẺ HỎA PHONG ĐỈNH
Trên là Li (lửa), dưới là Tốn (gió)

Cách là biến đổi, có công dụng “cách vật” (biến đổi các vật) dễ thấy nhất là cái đỉnh (vạc) vì nó dùng để nấu ăn, biến đồ sống thành đồ chín; cho nên sau quẻ Cách tới quẻ Đỉnh.
Thoán từ:
Đỉnh: Nguyên cát, hanh.
Dịch: Vạc (nấu ăn): Rất tốt, hanh thông.
Giảng: Nhìn hình của quẻ, ta thấy vạch đứt ở dưới cùng như cái chân vạc, ba vạch liền ở trên như cái thân vạc trong chứa thức an, vạch đứt ở trên nữa như hai tai vạc, vạch liền ở trên cùng là cái đòn để khiêng vạc. Vì vậy gọi là quẻ Đỉnh.
Theo nghĩa thì nội quái Tốn là cây, gỗ (ở đây không nên hiểu Tốn là gió), ngoại quái Li là lửa, đút cây vào lửa để đốt mà nấu thức ăn.
Ở trên đã xét quẻ Tỉnh, về việc uống; ở đây là quẻ Đỉnh, về việc ăn. Cổ nhân trong việc nấu nướng, trước hết để tế Thượng đế, rồi để nuôi bậc thánh hiền. Tế Thượng đế thì cốt thành tâm, nuôi thánh hiền thì cốt trọng hậu. Đó là ý nghĩa câu trong Thoán truyện.
“Thánh nhân phanh (chữ ở đây đọc là phanh như chữ ) dĩ hưởng Thượng đế, nhi đại phanh (đại ở đây là trọng hậu) dĩ dưỡng thánh hiền”. Vì vậy quẻ Đỉnh có cái nghĩa rất tốt.
Quẻ Li có đức thông minh, sáng suốt; quẻ Tốn có đức vui, thuận; hào 5 am nhu mà được ngôi chí tôn, đắc trung, ứng với hào 2 dương cương ở dưới; vậy quẻ Đỉnh có đủ những đức sáng suốt, vui thuận, đắc trung, cương (hào 2) nhu (hào 5) ứng viện nhau để làm việc đời, thì có việc gì mà không hanh thông?
Hào từ:
Sơ lục: Đỉnh diên chỉ, lợi xuất bĩ, đắc thiếp, dĩ kì tử, vô cữu.
Dịch: Hào 1, âm: Vạc chống chân lên, trút những đồ dơ bụi bặm (bĩ) ra thì lợi; (ngẫu nhiên gặp may) như gặp được nguoi882 thiếp để sinh con cho mình, không lỗi.
Giảng: Hào này là cái chân vạc, âm nhu mà ừng với hào 4 dương cương ở trên có cái tượng chống chân lên trên, tuy xấu, nhưng vì vạc chưa đựng thức ăn, chưa dặt lên bếp thì nhân nó chổng chân lên mà trút hết các dơ bẩn ra, rốt cuộc hoá tốt; ngẫu nhiên gặp may như người đàn ông có vợ rồi, gặp một người thiếp thấp hèn nhưng sinh con cho mình, không có lỗi.
Cửu nhị: Đỉnh hữu thực, ngã cừu hữu tật, bất ngã năng tức, cát
Dịch: Hào 2, dương: Vạc chứa thức ăn rồi, kẻ thù oán ta vì ghen tuông, nhưng không tới gần ta được, tốt.
Giảng: Hào này dương cương ở vị trung, hữu dụng rồi, như cái vạc đã chứa thức ăn. Vì nó thân với hào 5 âm ở trên mà không để ý đến hào 1 âm ở sát nó nên nó bị 1 ghen tuông mà oán nó. Nhưng nó quân tử, ứng với hào 5, nên 1 không tới gần mà hãm hại được. Nên cẩn thận thôi, vẫn là tốt.
Cửu tam: Đỉnh nhĩ cách, kì hành tắc , trĩ cao;
bất thực; phương vũ, khuy hối, chung cát.
Dịch: Hào 3, dương: Như cái tai vạc dương thay đổi, chưa cất vạc lên được, thành thử mỡ chim trĩ (mỡ ngon) chưa đem ra cho người ta ăn; nhưng sắp mưa rồi, không còn ăn năn nữa, kết quả sẽ tốt.
Giảng: Hào này ở giữa lòng vạc, dương cương, là hạng người tốt, có hào trên cùng ứng với nó, nhưng bị hào 5 ngăn cách (cũng như cái tai vạc hào 5 còn dương sửa, chưa cất vạc lên được) thành thử chưa đắc dụng, cũng như món ăn (hào 3) chưa đem ra cho người ta ăn được. Nhưng 3 có tài, lại chính đáng (dương ở vị dương) thì chẳng bao lâu 5 và 3 sẽ hợp nhau, âm (5) dương (3) giao hào, tượng như trời sắp mưa, không còn gì ân hận nữa; lúc đó 3 sẽ đắc dụng, kết quả sẽ tốt.
Cửu tứ: Đỉnh chiết túc, phú công tốc (túc) kì hình ốc, hung.
Dịch: Hào 4, dương: Chân vạc gãy, đánh đổ thức ăn của nhà công hầu, mà bị hình phạt nặng, xấu.
Giảng: Hào này o83 vị cao gần ngôi chí tôn, vậy là có trách nhiệm lớn, nhưng ứng hợp với 1, âm nhu ở dưới, nên không gánh nổi trách nhiệm, như cái vạc gãy chân, đánh đổ thức ăn, bị tội.
Theo Hệ từ hạ truyện chương V, Khổng tử cho rằng hào này cảnh cáo những kẻ đức mỏng mà ngôi tôn, trí nhỏ mà mưu lớn, sức yếu mà gánh nặng.
Lục ngũ: Đỉnh hoàng nhĩ, kim huyễn, lợi trinh.
Dịch: Hào 5, âm: Cạn có tai màu vàng, có đòn xâu bằng kim khí, giữ được đạo chính thì bền.
Giảng: Hào này là cái quai vạc, đắc trung cho nên tượng bằng màu vàng; ở trên nó là hào dương cương, tượng bằng cái đòn xâu bằng kim khí (chất cứng), vậy là người có tài, đức, chỉ cần giữ được đạo chính thôi.
Thượng cửu: Đỉnh ngọc huyền, đại cát, vô bất lợi.
Dịch: Hào trên cùng, dương: Vạc có cái đòn xâu bằng ngọc, rất tốt, không gì là không lợi.
Giảng: Hào trên cùng này là cái đòn để xâu vào tai vạc mà khiêng; nó dương cương mà ở vị âm (chẵn), vừa cương vừa nhu, nên ví nó với chất ngọc vừa cứng vừa ôn nhuận. Ở cuối thời Đỉnh, như vậy là rất tốt.
*
Quẻ này cũng như quẻ Tỉnh, hào trên cùng tốt nhất vì tới lúc thành công.











