56. QUẺ HỎA SƠN LỮ

Trên là Li (lửa), dưới là Cấn (núi)

Thịnh đến cùng cực thì phải suy, đến nỗi mất chỗ ở, phải đi ở đậu đất khách , cho nên sau quẻ phong tới quẻ Lữ. Lữ là bỏ nhà mà đi tha phương.

Thoán từ :

 

Lữ : tiểu hanh, lữ trinh, cát

Dịch : ở đậu : hơi hanh thông. Đi ở đậu mà giữ đạo chính thì tốt

Giảng : chỗ ở của lửa là mặt trời hay lò, chứ không phải ở trên núi : trên núi lâu lâu vẫn có đám lửa cháy rừng hay đốt rừng , nhưng chỉ một thời gian ngắn thôi. Cho nên dùng cái tượng lửa (Li) ở trên núi (Cấn) để chỉ cảnh bỏ nhà mà đi ở đậu quê người.

Canh do là cảnh bất đắc dĩ, nhiều lắm chỉ có thể hơi hanh thông được thôi, nếu người đi ở đậu biết giữ đức trung, thuận, như hào 5 yên lặng như nôi quái Cấn, sáng suốt như ngoại quái Li, Hào 5 đặc trưng mà lại là âm ở giữa hai hào dương, biết thuận theo dương. Cái đạo ở đâu là mềm mỏng, đừng làm cao để người ta khỏi ghét ; nhưng mặt khác, cũng phải yên lặng sáng suốt giữ tư cách, đạo chính của mình để người ta khỏi khinh. Giữ cho được nghĩa lý trong hoàn cảnh đó thật là khó (Lữ chi thời nghĩa, đại hĩ tai : lời Thoán truyện)

Đại Tượng truyện cũng lại áp dụng vào việc hình pháp, khuyên phải xử đoán sáng suốt (Li) và thận trọng (như Cấn), đừng giam tội nhân quá lâu trong ngục (Quân tử dĩ minh thận dụng hình, như bất lưu ngục).

Hào từ

1. Sơ lục : lữ tỏa tỏa, tư kỳ sở thủ tai.

Dịch : hào 1, âm : ở đậu mà tư cách nhỏ nhen, tẳn mẳn tức là tự chuốc lấy họa

Giảng : hào này âm nhu, ở vị thấp nhất, ví với người chí đã cùng, tư cách hèn hạ đối với chủ nhà mình ở đậu mà tham lam, tẩn mẩn, khiến người ta ghét, như vậy là tự rước họa vào thân mình.

2. Lục nhị : lữ tức thứ, hoài kỳ tư, đắc đồng bộc, trinh

Dịch : hào 2, âm : ở đất khách, được chỗ trọ an lành, giữ được tiền bạc, lại có đầy tớ tin cẩn.

Giảng : ở đất khách nên nhu thuận, mà hào này là âm nhu, đắc trung, đắc chính, trên lại ứng với hào 5 cũng là âm nhu, đắc trung mà lại văn minh (ở ngoại quái Li), như gặp được chủ nhà tốt, mình có chỗ trọ an lành, lại giữ được tiền, có đầy tớ tin cẩn, mọi việc đều tốt cả.

3. Cửu tam : lữ, phàn kì thứ, táng kì đồng bộc, trinh, lệ

Dịch : hào 3, dương : ở đất khách, mà (tự mình) đốt chỗ trọ, mất đầy tớ , dù chính đáng cũng nguy.

Giảng : hào này qúa cương (dương ở vị dương), bất trung ở đất khách như vậy không tốt, vị lại khá cao, có ý tự cao, bị chủ nhà trọ đuổi, như vậy không khác gì tự đốt chỗ trọ của mình, đầy tớ cũng không ưa mình, mất lòng cả người trên kẻ dưới, dù mình có chính đáng cũng nguy.

4. Cửu tứ : lữ vu xử, đắc kì tư phủ, ngã tâm bất khoái

Dịch : hào 4, dương : tới đất khách, được chỗ ở tạm, có tiền của và đồ hộ thân (tượng trưng bằng cái búa)) nhưng trong lòng không vui.

Giảng : tuy dương cương nhưng ở vị âm, lại ở dưới cùng ngoại quái, là biết mềm mỏng, tự hạ, tức biết xử thế, cho nên được chỗ ở tạm, có tiền của, vật liệu phòng thân, nhưng ở trên, hào 5 âm nhu, lại thấp hèn, cũng chẳng giúp đỡ được gì, vì vậy lòng 4 không vui.

Các sao khác cho “tư phủ” là cái búa sắc bén, và giảng là : lữ khách tới nơi, không có quán trọ, chỉ có mảnh đất gai góc, phải dùng búa bên phá bụi bờ mà làm chỗ ở, nên trong lòng không vui.

5. Lục ngũ : xạ trĩ, nhất thỉ vong, chung dĩ dự mệnh

Dịch : hào 5, âm : bắn con trĩ, mất một mũi tên, sau được khen và phúc lộc (hoặc chức vị : mệnh)

Giảng : thường hào 5 trỏ ngôi vua, nhưng nếu vua là làm lữ khách thì vua mất nước, cho nên chỉ nên coi là một lữ khách thôi, một lữ khách văn minh (ở ngoại quái Li), nhũn nhặn, mềm mỏng, âm nhu được lòng mọi người (đắc trung), như vậy tất được tốt đẹp như bắn được con trĩ (một loài chim đẹp – tượng quẻ Li), tốn hao không mấy mà được tiếng khen, và phúc lộc.

6. Thượng cửu : điểu phần kì sao, lữ nhân, tiên

Tiếu hậu hào đào, táng ngưu vu dị, hung.

Dịch : Hào trên cùng, dương : con chim cháy mất tổ, người lữ khách trước cười, sau kêu khóc, vì láu táu (vô ý) đánh mất con bò (đức nhu thuận), xấu.

Giảng : Thân phận ở đậu mà lại ở trên chủ nhà, đã là nghịch cảnh rồi, đã vậy lại quá cương (hào dương) mất lòng người, tất bị đuổi đi, như con chim cháy mất tổ. Mới đầu hớn hở, vì được ở trên người, sau phải kêu khóc vì mất chỗ trọ. Sỡ dĩ vậy vì khinh dị đánh mất đức nhu thuận (tượng bằng con bò) rất cần ở thời ở đậu.

 

ù

 

Cuối quẻ Lữ này, cụ phan bội châu có ghi cảm tưởng :

“Xê cảnh khốn nạn không gì bằng Lữ, thiệp thế rất khó khăn cũng không gì bằng Lữ, Tạp quái truyện nói rằng : “Lữ là ít người thân yêu là đường cùng khốn của người vậy : Lữ quả thân dã, nhân chi cùng dã”

“… Tuyền sáu hào không một chữ cát, chữ hanh nào cả …Dở sinh gặp hồi đen rủi, gởi thân ở đất khách quê người … may khỏi tai họa là hạnh phúc đã lớn rồi. Vậy nên trung chính như Lục nhị (hào 2, âm), văn minh như trung như Lục ngũ (hào 5, âm) mà hào từ không có chữ cát hanh. Huống gì quá cương, bất trung như Cửu tam (hào 3, dương), Thượng cửu (hào trên cùng, dương) nữa ru ? Vậy nên người ở vào thời Lữ, nên mang chặt lấy hai chữ nhu, trung làm bùa họ thân”.

Đọc lời của Cụ, chúng tôi vô cùng cảm thán. Trong mấy chục năm, vì quốc gia, dân tộc, Cụ gởi thân quê người, gặp biết bao cảnh tủi, rủi ro, nỗi gian nguy, rốt cuộc cũng không tránh khỏi tai họa, nhưng lúc nào cũng giữ được tư cách, khí phách chí hướng. Ai hiểu được tình cảnh lữ thứ, hiểu được quẻ Lữ hơn Cụ?

 

57. QUẺ THUẦN TỐN

Trên dưới đều là Tốn (gió, thuận)

Lâm vào cảnh ở quê người thì thái độ nên thuận tòng người, cho nên sau quẻ Lữ tới quẻ Tốn. Tốn là gió mà có nghĩa là thuận, là nhập vào J.Legge và R.Wilhem đều dịch Tốn là nhậo vào.

Thoán từ :

Tốn : tiểu hanh, lợi hữu du vãng, lợi kiến đại nhân

Dịch : thuận thì hơi được hanh thông, tiến hành thì có lợi, lựa bậc đại nhân mà tín theo thì có lợi.

Giảng : Quẻ này có một hào âm ở dưới hai hào dương, là âm phục tòng dương, nên gọi là Tốn. Tiểu nhân mà phục tòng quân tử thì có thể tốt, nhưng phải có việc để tiến hành , chứ không phải chỉ ở yên mà tốt, lại phải lựa bậc đại nhân (có tài, đức) mà tin theo. Đại nhân trỏ hào 1 và hào 4. Nhất là hào 5, đắc trung lại đắc chính nữa, 1 và 4 đều phải theo hào đó.

Đại tượng truyện giảng : trên là gió, dưới là gió (Tốn), là có hai luồng gió tiếp tục theo nhau. Người quân tử tiếp tục xuất phát mệnh lệnh để thi hành chính sự, mà thiên hạ phục tòng , cũng như vạn vật ngả theo gió.

Hào từ :

1. Sơ lục : tiến thoái, lợi vũ nhân chi trinh.

Dịch : Hào 1, âm : tiến lui tự do, thêm vào cái chí hướng, bền của hạng võ dùng thì có lợi.

Giảng : Hào này âm nhu ở dưới cùng quẻ Tốn là người nhu thuận thái quá, còn nghi ngờ, không cương quyết tiến hay lui, không thể làm gì được ; Hào từ khuyên phải theo cái chí kiến cương của hạng người võ dũng thì mới trị được tật nghi hoặc.

2. Cửu nhị : tốn tại sàng hạ, dụng sử vu phân nhược, cát, vô cứu.

Dịch : Hào 2, dương : Thuận nép ở dưới giường, dùng vào việc lễ bát, đồng cốt rối ren thì tốt, không có lỗi

Giảng : Hào dương mà ở vào vị trí âm thời Tốn (thuận), nên quá thuận đến nỗi nép ở dưới giường. May mà đắc trung, không phải là kẻ siểm nịnh, mà lại có lòng thành; trong việc tế thần, mà như vậy thì tốt, không có lỗi. “Sử” là chức quan coi việc tế “phận nhược” (rối ren) dùng để tả việc cúng tế, cầu thân

 

3. Cửu tam : tân tốn, lận

Dịch : thuận tòng quá nhiều lần (quá mức) đáng xấu hổ

Giảng : hào này quá cương (dương ở vị dương), bất đắc trung, vốn nóng nảy, kiêu căng, thất bại nhiều lần, sau mới làm bộ tự hạ, thuận tòng, nhưng lại thuận tòng quá mức, việc gì cũng thuận tòng dù không phải lúc, đáng xấu hổ, R.Wilhem giảng : suy nghĩ đi suy nghĩ lại nhiều lần kĩ quá, mà không quyết định hành động, xấu hổ.

4. Lục tứ : hối vong, điền hoạch tam phẩm

Dịch : Hào 4, âm : hối hận mất đi, đi săn về, được chia cho ba phần

Giảng : hào này âm nhu, hào 1 ứng với nó cũng âm nhu, không giúp gì được nó, mà nó lại bị kẹt giữa 4 hào dương ở trên và dưới, xấu ; nhưng nhờ nó đắc chính, địa vị cao (ở ngoại quái, sát hào 5) mà lại có đức tự khiêm, thuận tòng, nên được trên dưới mến, chẳng những không có gì hối hận, mà còn được thưởng công. Thời xưa đi săn về, chia làm 3 phần (phẩm vật) : một phần để làm đồ tế, một phần để đãi khách, một phần giao cho nhà bếp. Có công lớn mới được chia như vậy.

5. Cửu ngũ : trinh cát, hối vong, vô bất lợi, vô sở hữu chung.

Tiên canh tam nhật, hậu canh tam nhật, cát

Dịch : Hào 5, dương : giữ đạo chính thì tốt, hối hận mất đi, không có gì là không lợi, mới đầu không khá mà cuối cùng tốt ; (đinh ninh như) trước ngày canh ba ngày, (đắn đo như) sau ngày canh ba ngày, tốt.

Giảng : Hào này ở thời Tốn, phải thuận tòng mà bản thế và vị đều là dương cả,mới đầu không tốt , (vô sơ), e có điều hối hận,may mà đắc trung,đắc chính, hợp với tư cách một vị chủ , cứ giử đức trung ,chính ấy thì sau sẽ tốt ( hữu chung ), hối hận mất hết mà không có gì không lợi .Tuy nhiên,muốn kết quả được tốt thì trước khi hành động, canh cải , phải đinh ninh cân nhắc cho kỹ, rồi sau khi canh cải phải khảo nghiệm chu đáo

Trong thập can : Giáp, Aát ,Bính, Đinh,Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm Qúy Canh đứng hàng thứ 7, qúa giữa, tới lúc phải thay đổi (chữ Canh trong hào tử cũng dùng như chữ Canh là đối ) Ba ngày trứơc ngày Canh là ngày Đinh, chữ Đinh này mượn nghĩa chữ Đinh (đinh ninh ) ; ba ngày sau ngày Canh là ngày Qúy , chử quý này mượn nghĩa chữ quy (quy đặc là đo lường).

Cách dùng chữ ở đây cũng như cách dùng chữ trong thoán từ quẻ Cố

6. Thượng cửu : tốn tại sàng hạ, táng kì tư phủ, trinh hung

Dịch : hào trên cùng, dương : thuận nép ở dưới giường, mất đồ hộ thân, cứ giữ thói xấu đó thì càng bị họa

Giảng : ở trên cùng quẻ Tốn là thuận tòng đến cùng cực như kẻ nép ở dưới giường, tới nỗi đức dương cương – ví với đồ hộ thân (tư phủ) của mình cũng mất luôn. Cứ giữ thói xấu xa, đê tiện siểm nịnh đó thì càng bị họa.

 

58. QUẺ THUẦN ĐOÁI

Trên dưới đều là Đoái (chằm, hòa duyệt)

­­

Tốn có nghĩa là nhập vào, hễ nhập được vào lòng nhau, hiểu lòng nhau, thì mới ưa nhau mà hòa duyệt, vui vẻ với nhau, cho nên sau quẻ Tốn tới quẻ Đoái. Đoái là chằm mà cũng có nghĩa là hòa duyệt

Thoán từ .

Đoái ; Hanh ; Lợi trinh

Dịch : vui thì hanh thông. Hợp đạo chính thì lợi

Giảng : Đoái là chằm, cũng là thiếu nữ. Nước chằm làm cho cây cỏ vui tươi, sinh vật vui thích ; thiếu nữ làm cho con trai vui thích. Vui thích thì hanh thông, miễn là phải hợp với đạo chính; phải ngay thẳng ; thành thực , đoan chính. Đoái có hai hào dương ở phía trong, một hào âm ở ngoài, nghĩa là trong lòng phải thành thực rồi ngoài mặt như hoà ,như vậy là hợp với đạo chính, tốt.

Thoán truyện – giảng rộng ra : vui vẻ mà hợp với đạo chính thì là thuận với trời, hợp với người. Vui vẻ mà đi trước dân thì dân quên khó nhọc : vui vẻ mà xông vào chốn nguy hiểm thì dân quên cái chết mà cũng xông vào ; đạo vui vẻ (làm gương cho dân) thật lớn thay ; khuyến khích dân không gì bằng.

Đại tượng truyện thiên về sự tu thân, khuyên người quân tử nên họp bạn cùng nhau giảng nghĩa lý, đạo đức rồi cùng nhau thực hành (dĩ bằng hữu giảng tập), để giúp ích cho nhau mà hai bên cùng vui vẻ.

Hào từ

1. Sơ cửu : hòa đoái, cát

Dịch : hào 1, dương : hòa thuận vui vẻ, tốt.

Giảng : dương ở dưới cùng quẻ Đoái là quân tử mà khiêm hạ, ở trên lại không tư tình với au (vì 4 cũng là dương, không phải là âm, tiểu nhân). Nên chỉ dùng đạo chính mà hòa thuận vui vẻ với mọi người, tốt.

2. Cửu nhị : phu đoái, cát, hối vong

Dịch : hào 2, dương : trung trực mà vui vẻ, tốt, hối hận mất đi

Giảng : ở gần hào 3, âm nhu, tiểu nhân, nhưng hào 2 này đã dương cương mà lại đắc trung, cho nên có đức thành thực cương trung, không nhiễm xấu của hào 3, không bị hối hận.

3. Lục tam : lai đoái, hung

Dịch : hào 3, âm : quay lại cầu vui vẻ với người ở dưới, xấu

Giảng : âm nhu, bất trung bất chính, là hạng tiểu nhân tìm vui mà không giữ đạo ; là phận gái ở giữa bốn người con trai (4 hào dương, 2 ở trên, 2 ở dưới) cầu vui với 2 người ở trên, thì không dám vì phận thấp, phải quay lại cầu với hai người ở dưới, nhưng họ cũng không thèm, vì hào 1 cương trực mà chính, hào 2 cương trực mà trung, kết quả là xấu.

4. Cửu tử : thương đoái , vị ninh, giới tật, hữu hỉ.

Dịch : hào 4, dương : cân nhắc xem nên cầu vui ở phía nào mà chưa quyết định đuợc, rồi sau theo chính bỏ tà, đáng mừng.

Giảng : dương cương mà ở vị âm, chưa thật là quân tử, ở trên thừa tiếp hào 5 vừa trung vừa chính, nhưng ở dưới lại gần hào 3, tiểu nhân, cho nên mới đầu do dự, cân nhắc xem nên hướng về phía nào ; nhưng nhờ có đức dương cương, đồng đức với 5, nên sau hướng về 5, quyết tâm bỏ tà theo chính, thật đáng mừng.

5. Cửu ngũ : phu vu bác,hữu lệ

Dịch : hào 5, dương : nếu tin ker tiểu nhân mà tiêu mòn (bác) hết đức trung chính của mình thì nguy.

Giảng : hày này dương cương, trung chính, địa vị chí tôn, ở vào thời Đoái mà thân cận với hào trên cùng âm nhu là kẻ tiểu nhân làm chủ sự vui, rồi ham vui bậy bạ thì nguy, đây là lời răn kẻ trị nước

6. Thượng lục : dẫn đoái

Dịch : hào trên cùng, âm : đem sự vui thú tới

Giảng : ở trên cùng quẻ Đoái mà âm nhu là kẻ chuyên siểm nịnh, dụ dỗ người ta tìm vui một cách bất chính. Tất nhiên là xấu rồi, chẳng cần nói.

 

ù

 

Chúng ta để ý : 6 hào thì 2 hào âm là tiểu nhân dụ dỗ 4 hào dương quân tử, và 4 hào này giữ được chính đạo cả, vì Kinh Dịch tin như Khổng tử rằng muốn làm vui lòng người quân tử mà không dùng chính đạo thì không thành công (Duyệt chi bất dĩ đạo, bất huyệt đã. Luận ngữ XIII 25)

 

59. QUẺ PHONG THỦY HOÁN

Trên là Tốn (gió), dưới là Khảm (nước)

Hòa vui đến cực điểm rồi thì sẽ li tán, vì vậy sau quẻ Đoái đến quẻ Hoán, Hoán là lìa , tan tác

Thoán từ

Hoán : hanh. Vương cách hữu miếu

Lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh

dịch : lìa tan : hanh thông. Vua tới nhà thái Miếu, vượt qua sông lớn thì lợi, giữ đạo chính thì lợi

Giảng : trên là gió, dưới là nước (Khảm cũng có thể hiểu là mây – như quẻ Thủy lôi Truân, cũng gọi là Vân lôi truân) ; gió thổi trèn nước (hay mây) làm nước tung tóe ra (hay mây tan rã ra) cho nên đặt tên quẻ là Hoán

Thường thì nhóm họp mới hanh thông (như quẻ Tụy), nhưng li tán cũng có khi hanh thông, chẳng hạn sương mù tụ lại nhiều quá, nắng lên, nó tan đi thì tốt, hoặc thời nhiễu loạn, dân chúng tụ họp lại chống đối, phải giản tán đi v.v… Hễ họp thời thì tốt, trái lahi thì xấu. Muốn cho công việc giải tán hanh thông thì nhà cầm quyền phải có lòng chí thành, như một ông vua tới nhà Thái Miếu ; lại phải biết mạo hiểm như có gan vượt qua sông lớn ; sau cùng phải giữ đạo chính, đừng làm những việc bất chính

Thoán truyện giảng ý nghĩa hanh thông của quẻ này như sau ; nội quái vốn là quẻ Khôn, một hào dương của quẻ Càn vào thay hào 2 quẻ Khôn mà thanh quẻ Khảm ; ngoại quái vốn là quẻ Càn, hào 1 quẻ Khôn vào thay hào 1 quẻ Càn , thành quẻ Tốn. Vậy là trong trùng quái Hoán có một hào dương cương ở trong, một hào âm nhu ở ngoài, mà hào này đắc vị. Thuận theo 2 hào dương ở trên nó để tiến lên, như vậy là tốt.

Vượt qua sông lớn mà có lợi vì quẻ có cái tượng gỗ (Tốn cũng là cây, gỗ) ở trên nước, tức thuyền trên nước ; nhờ thuyền mà qua sông được. Nghĩa bóng là nhờ người ta có tài mà làm nên việc lớn.

Đại Tượng truyện bàn rộng ra, khuyên sau khi giải tán rồi lại nên nghĩ tới việc nhóm họp lại, mà muốn nhóm họp, thống nhất nhân tâm thì nên đặt lễ tế Thượng đế, tế Tổ tiên.

Hào từ

1. Dịch : hào 1, âm : dùng con ngựa mạnh để cứu vớt, tốt.

Giảng : ở đầu thời li tán, còn có thể gom lại được ; hào này âm nhu, kém tài, không đủ sức, nhưng trên có hào 2 dương cương đắc trung, ỷ thác vào được, như đi đường xa có con ngựa khỏe, cho nên tốt.

2. Cửu nhị : Hoán, bôn kì kỷ, hối vong

Dịch : hào 2, dương : lúc li tán, nên dựa vào hào 1 làm ghế ngồi thì hối hận mất đi.

Giảng : thời này là thời li tán rồi, dễ có việc ăn năn ; hào này dương cương đã giúp được cho hào 1, bây giờ nên dựa vào 1 làm ghế ngồi, đỡ đần nhau thì khỏi phải hối hận.

3. Lục tam : Hoán kỳ cung, vô hối.

Dịch : Hào 3, âm : đánh tan lòng riêng tây của mình đi thì không hối hận

Giảng : Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, là người có lòng vị kỷ, nhưng ở vị dương lại được hào trên cùng chính ứng với nó, mà có lòng lo việc đời (vì là dương cương) ; nếu 3 bỏ tính vị kỷ đi, lo gánh việc đời với hào trên cùng, thì sẽ không hối hận

4. Lục tứ : Hoán kỳ quần, nguyên cát. Hoán kì khâu, phỉ di sở tư.

Dịch : Hào 4, âm : giản tán bè phái của mình đi, rất tốt. Vì như vậy là giản tán cái nhỏ để tập hợp cái lớn lại thành gò đống ; điều đó người thường không thể nghĩ tới được.

Giảng : Hào này âm nhu, thuận, giúp đỡ hào 5 vừa cương, vừa đắc trung, như vị đại thần giúp một minh quân, mà biết giải tán bè phái của mình đi ( sở dĩ nói vậy vì hào 1 ở dưới không ứng viện với 4, cũng như 4 không còn bè phái), để đoàn kết, tập hợp cả quốc dân mà cùng lo cứu nước; như vậy là giải tán cái nhỏ để gom cái lớn tại thành gò đống, rất tốt. Người thường không thể hiểu được lẽ đó mà chê sao lại giải tán đảng của mình. Muốn vậy phải là người đắc chính (âm ở vị âm) như 4, và đắc trung, cương cường như hào 5.

5. Cửu ngũ : Hoán hãn kì đại hiệu, hoàn vương cư, vô cữu

Dịch : Hào 5, dương : ban bố hiệu lệnh lớn khắp nước như mồ hôi phát ra ở khắp thân thể, phát hết kho lẫm của vua để chu cấp cho dân, không có lỗi

Giảng : năm chữ “Hoán hãn kì đại hiệu” tối nghĩa. Chu Hi giảng là hủy bỏ các hiệu lệnh trước đi, những hiệu lệnh đó như mồ hôi, chảy ra mà không trở lại . “Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch như trên là ban bố hiệu lệnh đi khắp nơi. J.Legge và R.wilhem cũng hiểu như vậy, nhưng giảng là những hiệu lệnh đó cứu nguy được cho dân như ngừơi bị bệnh mà phát tán, làm cho mồ hôi toát ra vậy.

Ba chữ sau : hoán vương cư” nghĩa dễ hiểu : vua nên tán tài để tụ dân, cũng như hào 4, giải tán bè phái để tụ dân, đều là chính sách tốt ở thời li tán cả.

6. Thượng cửu : hoán kì huyết khử, địch xuất, vô cứu

Dịch : hào trên cùng, dương : Tan (trừ) được máu (vết thương cũ) thoát khỏi kinh sợ , không có lỗi.

Giảng : hào này ở cuối thời li tán, sắp hết xấu ; nó có tài (dương cương) , lại được hào 3 ứng viện, cho nên nó thành công, trừ được vết thương li tán và thoát khỏi cảnh lo sợ.

 

ù

 

Phan Bội Châu so sánh quẻ này với quẻ Tụy, đại ý như sau :

Tụy và Hoán là hai thời trái ngược nhau, một thời nhóm họp, một thời lìa tan, nhưng thời nào cũng hanh thông được cả, miễn là biết hành động hợp lúc và có lòng chí thành : thoán từ hai quẻ đều có 4 chữ : “Vua tới thái miếu” , nghĩa là phải chí thành như nhà vua khi vào tế ở Thái miếu

Nhưng hai quẻ khác nhau ở chỗ. Tụy có 4 chữ : “lợi kiến đại nhân”. Hoán có 4 chữ : “lợi thiệp đại xuyên” vì ở thời Tụy , thuận cảnh, chỉ cần có người tài đức là làm nên việc còn ở thời Hoán, nghịch cảnh, phải có tài đức mà lại phải mạo hiểm nữa. Đó là thâm ý của cổ thần.

Sáu hào quẻ Hoàn ý nghĩa rất phân minh : hào 1, còn mong cứu chữa được ; hào 2, li tán đã nhiều rồi ; hào 3 có thể bắt tay làm việc, muốn vậy phải bỏ lòng vị kỷ đi ; hào 4 phải giải tán bè phái để đoàn kết toàn dân ; hào 5 phải ra hiệu lệnh mới, ban phát của riêng, hào 6 thì thành công. Quan trọng nhất là lời khuyên hào 4 và 5.

 

60. QUẺ THỦY TRẠCH TIẾT

Trên là Khảm (nước), dưới là Đoái (chằm)

Không thể để cho li tán hoài được, tất phải chặn bắt lại, tiết chế lại, cho nên sau quẻ Hoán tới quẻ Tiết.

Thoán từ :

Tiết : Hanh, Khổ tiết bất khả trinh

Dịch : tiết chế thì hanh thông. Nhưng tiết chế đến mức cực khổ thì không ai chịu được lâu.

Giảng : theo tượng quẻ, trên chằm có nước ; bờ chằm hạn chế số nước chứa trong chằm, cho nên đặt tên là quẻ Tiết.

Cái gì cũng vừa phải thì mới tốt, thái quá cũng như bất cập đều xấu cả. Quẻ này có 3 hào cương, ba hào nhu, không bên nào quá ; lại thêm hào 2 và hào 5 đều là dương cương mà đắc trung như vậy là xử sự được trung tiết, cho nên việc gì cũng hanh thông. Nhưng tiết chế quá, bắt người ta khổ cực thì không ai chịu được lâu, như vậy không còn hanh thông nữa.

Thoán truyện khuyên nhà cầm quyền nên theo luật tiết chế của trời đất : bốn mùa thay đổi, nắng mưa, nóng lạnh đều có chừng mực, mà trị dân : hạn chế lòng ham muốn, tính xa xỉ của con người, bắt dân làm việc vừa sức thôi, như vậy không tốn của cải, không hại dân (Tiết dĩ chế độ, bắt thương tài, bất hại dân). Lời đó giống lời khuyên trong luận ngữ : “Tiết dụng nhi ái dân” (dè dặt trong việc tiêu dùng mà yên dân).

Đại tượng truyện khuyên người quân tử (quân tử ở đây trỏ hạng người trị dân) đặt ra số, độ, nghĩa là hạn định một chừng mực nào đó trong sự làm việc và hưởng thụ của dân, tuỳ đạo đức, tài nghệ của mỗi người. (Quân tử, dĩ chế số độ, nghị đức hạnh). Như vậy là Đại Tượng truyện đã cho chữ tiết một tác dụng rất lớn : tiết chế có nghĩa gần như kế hoạch hóa ngày nay và có mục đích thi hành sự công bằng trong xã hội, như lời Đại Tượng truyện quẻ Khiêm (xứng vật bình thi : cho sự vật được cân xứng, quân bình)

Hào từ

1. Sơ cửu : bất xuất hộ đình, võ cửu

Dịch : hào 1, dương : không ra khỏi sân ngõ, không có lỗi

Giảng : hào này dùng chữ tiết với nghĩa tự mình tiết chế mình, tức dè dặt. Ở vào thời Tiết chế, làm việc gì cũng phải đúng mức (trúng tiết) mới tốt. Hào 1, dương cương, đắc chính, ở đầu thời tiết chế, biết thận trọng, không ra khỏi sân ngõ, vì biết là thời chưa thông, hãy còn tắc, như vậy là đúng với đạo tiết chế, không có lỗi. Hai chữ “hộ đình” chúng tôi dịch theo nghĩa “ngoại hội chi đình” của Chu Hi. J Legge dịch là không ra khỏi cái sân ở ngoài cái cửa (door) ; R.Wilhem dịch là không ra khỏi cái sân và cái cửa (door)

2. Cửu nhị : bất xuất môn đình, hung

Dịch : hào 2, dương : không ra khỏi cái sân ở trong cửa, xấu

Giảng : hào này đáng lẽ ra giúp việc được, vì thời đã khác thời của hào 1 đã thông rồi không tắc nữa mà lại được hào 5 ở trên cũng dương như mình giúp sức cho ; vạy mà đóng cửa không ra cũng như 1, hành vi đó xấu (hung)

Chữ môn J Legge và R.Wilhem đều dịch là gate, cửa ngõ, tức cửa ở ngoài cùng. Từ Hải chỉ giảng : cửa có một cánh gọi là hộ, hai cánh gọi là môn, tôi không biết cái nào là cửa ngõ, cái nào là cửa nhà. Phan Bội Châu không phân biệt thế nào là môn, là hộ, dịch là cửa hết. Điểm đó không quan trọng ; chỉ cần hiểu đại khái là không ra khỏi nhà, không đi đâu.

3. Lục tam : bất tiết nhược, tất ta nhược, vô cữu

Dịch : hào 3, âm : không dè dặt (tự tiết chỗ mình) mà phải than vãn, không đổ lỗi cho ai được.

Giảng : âm nhu, bất trung, bất chính, lại cưỡi lên hai dương,mà muốn tiến tới cõi nguy hiểm (quẻ Khảm ở trên), như vậy làkhông biết dè dặt, tự tiết chế, rước vạ vào thân, còn đỗ lỗi cho ai được nữa.

4. Lục tứ : an tiết, hanh

Dịch : hào 4, âm : vui vẻ tự tiết chế (không miễn cưỡng), hanh thông

Giảng : nhu thuận, đắc chính, vàng theo hào 5, thực tâm dè dặt, tự tiết chế dùng thời, cho nên hanh thông

5. Cửu ngũ : cam tiết, cát. Văng hữu thượng

Dịch : hào 5, dương : tiết chế mà vui vẻ (cho là ngon ngọt) thì tốt. Cứ thế mà tiến hành thì được người ta trọng, khen.

Giảng : hào này ở vị chí tôn, làm chủ quẻ tiết, có đủ các đức dương cương trung chính tự tiết chế một cách vui vẻ, thiên hạ noi gương mà vui vẻ tiết chế, cho nên tốt, và cứ thế mà tiến hành thì có công lớn, đáng khen.

6. Thượng lục : khổ tiết, trinh hung, Hối vong

Dịch : hào trên cùng, âm : tiết chế mà tới mức cực khổ, nếu cứ giữ mãi (trinh) thói đó thì xấu. Nên biết hối hận, bớt thái quá đi thì hết xấu

Giảng : hào này trái với hào trên, vì ở trên cùng quẻ tiết, có nghĩa là tiết chế thái quá, tới cực khổ, không ai chịu được hoài như vậy

Hai chữ “hối vong” ở đây không có nghĩa thường dùng là hối hận tiêu tan đi, mà có nghĩa là nếu hối hận thì cái xấu (hung) sẽ tiêu tan đi.

 

ù

 

Sau một cuộc li tán, phong tục suy đồi, kinh tế cùng quẫn, cho nên phải tiết dục, tiết chế nhu cầu. Những tiết chế một cách vừa phải thôi, (không nen thái quá) mà hợp thời thì mới tốt. Chúng ta nhận thấy 6 hào chia làm 3 cặp : 1 và 2 liền nhau mà 1 tốt, 2 xấu ; 3 với 4 liền nhau mà 3 xấu, 4 tốt ; 5 và 6 liền nhau thì 5 tốt 6 xấu ; chỉ do lẽ hoặc hợp thời hay không, đắc trung, đắc chính hay

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net