12 CON GIÁP
NĂM DẦN
HỔ Chúa tễ rừng xanh
HỔ NỖI KINH HOÀNG CỦA CON NGƯỜI
Hổ, cái tên mới nghe đã rùng mình . Với bộ mặt gân guốc , quai hàm mở rộng kín như hai gọng kìm đánh vào nhau khốc khốc , mồm hổ hoác hoác , lưỡi thè lè đỏ lòm lòm , mắt tròn to sắc lạnh
, xảo quyệt , ria mép rung rung thính nhạy , cái mũi đen xì phập phồng đánh hơi xa cả một dặm rừng . Thân hình hổ vạm vỡ nặng đến cả tạ , có con vài tạ . Bốn bộ móng vuốt hổ khoằm khoằm sắc lẽm chộp đâu trúng đó , làm con mồi chết không kịp kêu .
Thân hình đồ sộ , bộ mắt dữ tợn như vậy nhưng hổ dịch chuyễn nhẹ nhàng , không gây tiếng trên mọi địa hình , và kiên nhẫn cực kỳ trong việc rình mồi .
Trước đây , con người đối mặt với hổ là đồng nghĩa với đối mặt tử thần . Diệt được một chú hổ coi như lập được một chiến công to lớn , trừ được hiễm họa cho cộng đồng . Vì vậy , nhiều bảng , đã treo giải thưởng cho trai làng :Nếu ai bắt được hổ dữ , là có quyền chọn được một cô gái đẹp làm vợ .
Có một thời , con người đành bó tay sợ hãi , bất lực trước oai quyền của hổ , phải gọi hổ bằng ông : Ông ba mươi . Rối ông hổ đã trở thành linh vật đưa vào miếu thờ . Dân sơn tràng , dân đi hái củi , muốn yên bình khi đi vào rừng thì phải nhớ xách theo vài ba cân thịt bò bạc nhạc hoặc một cái đầu lợn to để cúng ông . Khi đã no oản , ông chui vào một hang tối , hoặc nằm dài ở một bờ suối nào đó mà khò một giấc ngon lành quên cả việc rình mồi .
Trong rừng có nhiều các loài thú , và phần lớn trong số đó là miếng mồi béo ngậy cho lũ hổ . Hổ khoan thai hưởng thụ khoản thịt sống tưởng như vô tận ấy , nhưng đôi khi chúng cũng nhàm chán nên ra khỏi rừng , mò vào làng , vồ người để thay đổi khẩu vị . Tai hoạ bắt đầu từ đó . Đêm đến
, ít ai dám rời khỏi làng , nhà cửa đóng kín mít . Khi đi rừng , con người phải nhìn trước nhìn sau , cảnh giác mọi lúc mọi nơi , ấy thế mà vẫn không thoát khỏi nanh vuốt của loài hổ dữ . Số người bị hổ vồ tha di hầu như không ai may mắn sống sót trở về . Có khi chúng ăn hết thịt , có khi chừa lại đầu cẵng . Truy tìm khắp nơi , dân làng chỉ còn biết ngậm ngùi nhặt nhạnh vài phần tử thi của người xấu số đem về chôn cất . Nhà nào rơi vào điềm gỡ ấy , những người thân còn lại thắt thõm lo sợ cả một đời vì người ta bảo có dớp , có ma hổ . Mỗi lần hổ vào làng bắt người , bắt gia súc là tiếng trống , tiếng mõ , tiếng xoong nồi đập vào nhau vang lên , hoà cùng tiếng chân chạy thình thịch , tiếng la hét om sòm , đốt lửa khua lên trời sáng rực để đuổi hổ . Trong các nhà , trẻ con ngồi thu mình vào một góc . Chúng tò mò lắm nhưng không có đứa nào dám bước ra để xem
. Con người ngày càng sinh sôi phát triển và đẩy lùi rừng- giang sơn của hổ , đến tận những vùng hẻo lánh . Hổ không còn là mối hiểm hoạ của loài người nữa , mà ngược lại chúng đang bị con người đưa đến thảm hoạ diệt chủng . Theo ống kê của các nhà khoa học , hiện nay trên toàn thế giới chỉ còn năm nghìn con hổ – một con số quá ít ỏi . Vì thế hổ đã được thế giới xếp vào loại động vật quý hiếm cần được bảo vệ .
HỔ TO NHẤT THẾ GIỚI
Hổ là loài động vật đặc trưng của Châu Á . Tính sơ lược , loai hổ có tất cả tám giống , trong đó loài hổ cư trú ở vùng Đông Bắc Trung Quốc có thể phong là vua của các loài hổ
Giống hổ vùng Đông Bắc thông thường nặng từ 180-200 kg , con nặng nhất có thể nặng đến 350 kg , đuôi dài khoảng một mét . Các loài hổ khác có thân hình nhỏ hơn . Hổ Bănglađét được gọi là to mà thân hình chỉ dài 1.65 m –1.95 m
Hổ Đông Bắc Trung Quốc thân hình to , đầu tròn , tai ngắn , bốn chân to mập và khỏe , lông thưa , màu vàng nhạt , vằn đen hẹp , cứ hai vằn một chập vào nhau . Phía sau thân hổ vằn đen dài và nhiều . Phần lông ở mặt hổ ngả màu trắng , trên mắt là một khoảng lông trắng tinh , cho nên gọi là hổ trán trắng
Hổ Đông Bắc sinh sống ở vùng sơn địa đồi núi nhấp nhô , cao cao gần 1000 m thuộc dãy núi tiểu Hưng An và Trường Bạch . Rừng cây của vùng này sống hổn hợp thành các loại cây lá nhỏ và lá to , đặc biệt là cây tùng đỏ chiếm ưu thế . Hổ vùng Đông Bắc thường hoạt động về đêm , khoảng thời gian từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời mọc . Trước khi mặt trời mọc là lúc chúng hoạt động nhanh nhẹn nhất . Ban ngày hổ Đông Bắc thường ngủ .
Tuổi thọ của hổ Đông Bắc dài tới hơn 30 năm , tuổi trưởng thành là 3-4 năm ; thời kỳ giao phối của hổ Đông Bắc bắt đầu từ 11 đến tháng 3 năm sau . Thời gian kéo dài từ 88 đến 110 ngày . Thông thường mỗi lần sinh sản hổ đẻ từ 2 đến 5 con . Hổ con đẻ ra nặng khoảng 3 kg . Sau khi đẻ từ 4 –12 ngày thì hổ mở mắt , một tháng rưỡi sau tập bắt đầu ăn thịt .
Khi hổ con được một tuổi , thể trọng tăng rất nhanh . Trong điều kiện tự nhiên , hổ con sống với hổ mẹ từ 2-3 năm mới tách riêng . Trong những năm nuôi con này , hổ mẹ không giao phối , vì vậy 3-4 năm hổ mẹ mới đẻ một lần . Nhưng khi con người nuôi dưỡng , hổ con có sáu tháng tuổi đã được tách riêng thì hổ mẹ lại giao phối đúng hàng năm .
Thức ăn chính của vùng Đông Bắc là lợn rừng hươu nai. Trong môi trường thiên nhiên đã no nê , khỉ có thể nhịn mấy ngày không ăn . Hổ nói chung không tấn công người , trừ khi tình
trạng bách bức quá hoặc đói quá Hiện nay số lượng của Hổ vùng Đông Bắc Trung Quốc còn rất ít , nên có nguy cơ diệt chủng . Vì vậy giống hổ này đã được thế giới xếp vào loại động vật quý hiếm cần bảo vệ . CHÚA TỂ RỪNG XANH
VỚI MÀU LÔNG TRẮNG
Hầu như không thể tìm thấy một con bạch hổ nào trong đời sống hoang dã . Nguyên nhân của tìng trạng này , ngoài nạn săn trộm , còn do thiên nhiên không có sự phối giống một cách khoa học để duy trì và gia tăng mức sinh sản của chúng
Hiện nay chỉ có các vườn thú mới tạo ra điều kiện an toàn và khoa học trong việc gây giống và bạch hổ . Người ta ước tính khoảng 80 con bạch hổ đang sống rải rác trong các vườn thú và gánh xiếc trên thế giới . Hầu hết những con vật này đều là con cháu của một ông tổ chung là con bạch hổ đực . Mohan được tìm thấy trong rừng rậm Rewa vào năm 1951 . Mọi chuyện bắt đầu khi tổ tiên Rewa tình cờ bắt được Mohan (lúc đó mới 9 tháng tuổi ) trong rừng rậm , cùng vơi 3 anh em của nó có sắc lông màu vàng khác . Nó được nuôi trong lâu đài Govi ngdgarh và khi nó lớn lên , được cho giao phối với con hổ cái lông vàng tên Begun . Lứa con của chúng ra đời năm 1955 với 4 con , trong đó con cái Radha được nuôi lớn và cho phối với Mohan . Cuộc hôn phối cận huyết này cho ra đời 4 con bạch hổ vào năm 1958 với cái tên : Raja , Rani , Mohine và Sukheshe . Tính chung , con Radha đã sinh được 4 lứa với 14 con trong đó có 11 con bạch hổ .
Năm 1963, theo thoả thuận của chính phủ Ấn Độ , tiểu vương Rewa gửi tặng vườn thú quốc gia ở Delhi 4 con bạch hổ và 4 con hổ lông vàng . Đổi lại , chính phủ Ấn Độ tài trợ cho việc nuôi dưỡng hai con Mohan và Shukeshi tại lâu đài Govindgarth . Mặc dù việc phối giống được tiến hành ở nhiều trung tâm như vườn thú Nehru ở Hyderabad , vườn thú Alipore ở Calcutta và vườn thú Shre Chamarajendra ở Mysore , nhưng vườn thú quốc gia Delhi vẫn là trung tâm chính đảm trách công tác này . Cặp Raja và Rani cho ra đời 20 con bạch hổ và trong 7 lứa đẻ . Sự giao phối cận huyết có những tai hại về phương diện sinh học nhưng bù vào đó , nó mang lại kết quả tích cực là đảm bảo được 1 tỷ lệ giống bạch hổ trong các lứa sinh sản .
Cứ thế những thế hệ cháu con của Mohan dần dần vượt ra ngoài biên giới quốc gia , cư trú tại nhiều nước khác nhau trên thế giới . Năm 1960 , vườn thú quốc gia ở Washington (Mỹ ) mua của tiểu vương Rewa một con bạch hổ để gây giống và đến năm 1970 , bán một con trong các lứa đẻ sau cho vườn thú Cincennati ở Ohio . Vườn thú này có ý định cho quy định tối đa một lượng bạch hổ . Nhiều gánh xiếc ở Mỹ , Canada , Nhật đã nuôi bạch hổ để diễn trò . Riêng gánh xiếc Hawthorne có số bạch hổ kỷ lục là 28 con .
Tại vườn thú Longleat ở Anh , một cặp hổ vàng đã hạ sinh một con cọp trắng tuyền trắng không có sọc đen như những loài bạch hổ khác . Con vật vẫn sống trong bầy của nó mà không bị phân biệt chủng tộc . Xem ra trong thế giới của loài chúa tể rừng xanh , còn có khá nhiều vấn đề di truyền học mà các nhà sinh học cần phải quan tâm .
HỔ TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Tiếng Việt có nhiều từ , nhiều câu (thuật ngữ , thành ngữ , tục ngữ ……) có liên quan đến hổ . Có thể dẫn ra đây một số :
+Bất nhập hổ huyệt , nan đắc hổ tử :
Câu này đã được dịch ra tiếng Việt , cũng trở nên một thành ngữ trọn vẹn , “không vào hang hùm , sao bắt được cọp con ?” Có nghĩa là muốn hành động phải quả quyết , dũng cảm . Một bài gia huấn có câu thơ trọn ý này :
Vào hang hổ , bắt hổ con mới tài .
+Chúa sơn lâm :
Con hổ được xem là con vật dũng mãnh , có uy quyền nhất , bắt buộc tất cả các loài thú trong núi rừng phải khuất phục . Có khi chỉ cần nói ông chúa sơn lâm là đã hiểu ngay rằng muốn chỉ tới con hổ .
+Chuồng cọp :
Chỉ vào nơi giam cầm các chiến sĩ ta ở nhà tù Côn Đảo . Nói chuồng cọp để chỉ vào địa điểm mà chế độ cũ giam hãm tra tấn khủng khiếp nhất .
+Chưa qua truông đã trật lọ cho khái :
Câu này lưu hành ở tỉnh Nghệ Tĩnh , có từ địa phương . Truông là đèo núi , lọ là bộ phận sinh dục của nam , khái là một từ đồng nghĩa với cọp . Cả câu có nghĩa:chưa đi khỏi núi , đã tỏ vẻ khinh thường cọp . Việc chưa hoàn thành đã lên mặt tỏ vẻ kiêu căng , biết đâu tai vạ (khó khăn ) đang chờ sẵn đâu đó .
+Cáo giả oai h ùm
Thành ngữ xuất xứ từ một câu truyện ngụ ngôn . Con cáo bảo với cọp rằng chính nó mới là chúa tể sơn lâm , tất cả các thú vật đều sợ . Nếu không tin cọp hãy để nó cỡi đi kh ắp nơi mà xem . Quả nhiên , đi đâu các loài vật đành phải tránh . Chúng sợ cọp , nhưng sợ chúng tưởng là chúng sợ cáo . Dựa vào thế lực , uy quyền của người khác để khoe mình , chính là cáo giả oai hùm .
+Dưỡng hổ đi hoạ
Nuôi cọp trong nhà , đến khi cọp lớn cọp lại bị cọp ăn thịt . Ai hay nuôi cọp để sau hại mình là chỉ vào người không biết đề phòng bọn phản bội . Cùng ý với nuôi ong tay áo .
+Điệu hổ ly sơn
Đưa cọp ra khỏi núi . Núi rừng là nơi quen thuộc cho cọp tung hoành . Nếu đưa cọp về đồn g bằng thì cọp bị lúng túng , dù có hung hăng dữ tợn cũng bị bỡ ngỡ , dễ dàng mắc bẫy . Đưa một người thoát ly khỏi một vùng quen thuộc để họ không có lực lượng hổ trợ , không phát huy là cách điệu hổ ly sơn .
+Đuổi hùm cửa trước , rước sói cửa sau
Chống kẻ ác này , nhưng lại chìa tay với kẻ ác khác , không phải là cách ứng xử thông minh . Ngày xưa, đi cầu viện nước này để cự lại nước kia , kết quả là đuổi được kẻ mạnh này thì lại bị kẻ mạnh khác thống trị , là một đừơng lối ngoại viện sai lầm . Đừơng lối ấy bị lên án là : tiền môn cự hổ , hậu môn tiếng lang .
+Hổ đội lối thầy tu
Thành ngữ để chỉ vào kẻ gian dối : mặc áo thầy tu (giả đạo đức ) nhưng thật chất là vật ác độc ( loài lang sói) . Đồng nghĩa với câu : miệng nam mô , bụng bồ dao găm .
+Họa hổ bất thành phản loại cẩu
Vẽ hổ không thành con hổ , mà lại giống con chó . Làm việc hết sức mình nhưng không thành công . Thành ngữ thường dùng chỉ lấy 4 chữ đầu : hoạ hổ bất thành . Người dùng câu này
, hoặc không tự khiêm tốn khi được giao việc , e không cáng đáng nỗi , hoặc để khuyên răng người nên tự lượng sức mình .
Trong truyện lục vân tiên , dân chúng thấy người tráng sĩ đi đánh Phong Lai , đã khuyên can , bảo Vân Tiên câu nhắc kỷ : E khi hoạ hổ bất thành
Khi không mình lại chôn mình vào hang !
+Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt Đây là một trong hai câu thơ , nhắc nhở con người trong việc ứng xử . Nguyên văn : Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm
Nghĩa là: Vẽ hổ , vẽ da , xương khó vẽ
Biết người , biết mặt , biết lòng sao !? Nghĩa là có thể quan sát được bề ngoài , chứ cái bề quan trọng của con người (hay của sự vật ) thì khó mà thấu hiểu được . Do đó , không nên chỉ chú ý bề ngoài .
+Hổ bảng Ngày xưa khi đi thi tiến sĩ , ai đổ được ghi tên lên bảng , gọi là hổ bảng , hay bảng hổ . Hổ bảng cũng có nghĩa la khoa thi tuyển chọn được nhiều người tài
+Hồ bôn Bôn có nghĩa là chạy , cũng có nghĩa là người dũng sĩ . Hổ bôn có nghĩa là đám quân sĩ mạnh . Hổ bôn trung lang tướng là chức vị của một võ quan cầm đầu đội quân khoẻ mạnh .
+Hổ bộ
Bước đi hùng dũng như cọp . Chỉ vào ny vũ của viên tướng hay của đoàn quân .
+Hổ cứ
Con cọp ngồi . Hổ cứ là chỉ đạo vào địa thế hiểm yếu .
+Hổ cốt
Xương hổ . Cao hổ cốt là cao nấu bằng xương hổ .
+Hổ đầu
Đầu cọp . Hổ đầu cũng chỉ vào tướng mạng hùng dũng .
+Hổ lang
Con cọp và con sói . Chỉ vào phường hung ác .
+Hổ lĩnh
Oáng chân hổ . Tướng tá tả hữu gồm người khoẻ mạnh thì gọi là hổ lĩnh .
+Hổ môn
Cửa ra vào dinh của các tướng soái .
+Hổ phù Ngày xưa , khi được cử ra trận , vị tướng cầm quân được nhà vua giao cho cái phù hịêu làm tin . Phù hiệu làm bằng gỗ , bằng ngà hay bằng kim loại , khắc hình con cọp , cắt làm đôi , viên tướng được cầm một nữa , nữa kia nhà vua giữ .
+Hổ phụ sinh hổ tử Cha hổ sinh con hổ . Ý nói : người con cũng có tài như người cha , gia đình giữ được truyền thống anh hùng . Như câu thành ngữ : cha nào con nấy .
Cùng ý nghĩa này , còn có thành ngữ :
_Hổ phụ lân nhi :cha hổ sinh ra con cũng là con lân , một loài vật xuất sắc . Truyện Nhị độ mai có câu :
Mới hay hổ phụ lân nhi . Khen cho tính trẻ cũng y tính già .
+Hổ phụ bất sinh khuyển tử : Cha con hổ thì không sinh con là chó đực
+Hổ quyền Chỗ nuôi cọp . Ngày xưa , các triều vua phong kiến thường có chổ nuôi cọp , có tổ chức cho cọp và voi đấu sức với nhau . Chỗ ấy gọi là hổ quyền .
+Hổ sinh phong Nguyên nhân là hổ sinh ra gió , ý muốn nói con người sinh ra tài năng , nay lại có điều kiện cho tài năng phát huy cao độ , như con hổ mọc cánh . Hổ chỉ ở dưới rừng núi , nhưng nếu có cánh thì bay lên trời được . Hùm có cánh thì toàn tài , không ai chế ngự nổi.
+Hổ tướng
Tướng dũng mãnh như hổ . Truyện tam quốc nói Lưu Bị lên làm vua có năm viên tướng võ nghệ siêu quần phù tá . Năm tướng ấy gọi là Ngũ hổ tứơng ( Quan Vũ , Trương Phi , Triệu Vân , Mã Siêu , Hoàng Trung ).
+Hổ trướng Xưa kia các vị nguyên soái cầm quân ra trận , tại nơi làm việc thường treo bức màn trướng có vẽ hình con hổ . Vào chỗ này , gọi là đến trước hổ trướng , màn hổ .
+Hổ trướng xu cơ
Việc cơ yếu bí mật trong quân Đào Duy Từ phục vụ cho chúa Nguyễn ( Đằng trong , thế kỷ 17 ) có soạn bộ sách binh thư , cũng đặt tên là Hổ trướng xu cơ .
+Hùm chết để da Nguyên trong câu : Hùm chết để da , người chết để tiếng ( có khi đọc là báo chết để da ). Da cọp dùng làm đồ trang sức y phục . Các loài khác chết đi là hết , riêng da cọp lại thành vật quý .
+Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn
Câu thơ trong truyện kiều , nay đã thành tục ngữ nhân dân quen thuộc , dùng để nói về người tài bị rơi vào hoàn cảnh không thuận lợi , bị thất thế thì cũng lâm vòng thất bại .
+Khám hổ bì Xem da cọp : Mấy câu này xuất xứ từ một câu chuyện giai thoại ( xem sách nho trong giai thoại Việt Nam tập I , trang 690 ) , sau được phổ biến chỉ vào sự giao tế dung tục . Hổ bì là da cọp , cũng chỉ vào vật kín đáo khó xem !
+Khoẻ như hùm ( Câu có nghĩa và thông dụng )
+Lòng bàn , hổ cứ Cái thế đất ở những vùng hiểm yếu ,hoặc có cơ thịnh vượng vì có những hình dánh như rồng phục , hổ ngồi . Thí dụ , thủ đô Thăng Long là nơi vương địa , được vua Lý Thái Tổ cho là có thế long bàn hổ cứ , nên mới dời đô ra đó .
+Long thành hổ bộ Dáng đi của những người có tài , đặc biệt là của các ông vua . Quan sát người có tướng làm vua , thấy họ đi như rồng , bước như hổ ( nghĩa là có vẻ uy nghi , đường bệ )
+Mãnh hổ nan địch quần hổ Con hổ tuy mạnh , vẫn không địch nổi một bầy chồn cáo . Chồn cáo đông , cùng hùa vào thì cọp không chống đỡ nổi . Ý khuyến khích sự đoàn kết , và để phòng sự đơn độc lẽ loi .
+Miệng hùm gan sứa Cách nói bề ngoài thì hăng hái , hùng hổ , nhưng thực sự thì lại hèn nhát , sợ hãi . Người tinh ý có thể nhận ra sự tầm thường giả dối này .
+Nam thực như hổ , nữ thực như miêu
Con trai ăn như hổ : ăn nhanh , ăn ngấu nghiến . Con gái ăn như mèo : ăn thong thả , nhỏ nhẹ .
+Sơn quân , sơn tinh Vị vua của rừng núi , cũng chỉ vào con hổ . Một số tác phẩm văn chương , thường dùng chữ sơn tinh , sơn quân để chỉ vào vua cọp ( thí dụ như sơn quân trong truyện Tống Trân Cúc Hoa ). Không nên lầm với sơn tinh để chỉ vào Tản Viên ( trong truyện sơn Tinh , Thuỷ Tinh ).
Thế cỡi hổ Cái thế phải liều , không làm cũng chết , như đã ngồi lưng cọp , thì cứ để thế mà đi ,nhảy xuống sẽ bị cọp cắn . Cũng có thành ngữ đồng ngữ :ngồi lưng cọp !
+Tạo sơn quan hổ đấu Ngồi ung dung trên núi để nhìn hai con hổ đánh nhau . Trong đường lối của những lực lượng đối lập nhau , người ta có cách lựa chiều cho hai thế kia tranh chấp , còn mình đứng ngoài để quan sát . Khi cả hai phía , có phía thất bại , có phía mỏi mệt , mình mới chen vào , đựơc lợi hơn .
+Thả hổ về rừng Bắt được hổ , phải giam giữ nó không cho gây tác hại . Đằng này lại cho nó về rừng để nó được thả sức tung hoành . Trong cuộc sống , dung túng cho một ai đó , đưa hắn về một nơi dễ tung hoành , không bị kìm chế , cũng là thả hổ về rừng .
+Tranh ngũ hổ Nhân dân ta thường vẽ tranh hổ để thờ . Hồ vàng ngồi giữa , bốn bên là hổ trắng , đỏ , xanh , đen . Thật ra đây là do niềm tín ngưỡng mà tưởng tượng ra , chứ trong thiên nhiên không có đủ màu sắc như vậy .
+Râu hùm hàm én
Chỉ vào tướng mạo của người anh hùng . Kiều có câu : “ Râu hùm , hàm én , mày ngài . ”
+Rừng già lắm voi , rừng còi lắm hổ
Kinh nghiệm của phường săn , chưa rõ đã được kiểm nghiệm chưa .
+Vào hang hổ : Thành ngữ do câu chữ Hán đã kể trên .
+Vào tòng long , phong tòng hổ Mây theo rồng , gió theo hổ . Chỉ vào nhưng cơ hội người anh hùng làm nên sự nghiệp . Gặp hội phong vân , là hàm ý này . Phong tòng hổ , cùng một ý như hổ sinh phong ( hùm mọc cách )
+Vuốt râu hùm – Xỉa răng cọp Chỉ ra những hành động gan góc , liều lĩnh , gặp cọp đã là nguy hiểm , mà còn dám vuốt râu , xỉa răng cọp thì không còn xem sự an toàn ra cái gì nữa .
NHỚ RỪNG
(Lời con hổ ở vườn Bách Thú ) Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt Ta nằm dài , trông ngày tháng dần qua ,
Khinh lũ người kia ngạo mạn , ngẩn ngơ , Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm Này sa cơ , bị nhục nhằn tù hãm ,
Để làm trò lạ mắt , thứ đồ chơi , Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi , Với cặp báo chuồng bên vô tư lự , Ta sống mãi trong tình thương nổi nhớ .
Thưở tung hoành hống hách những ngày xưa . Nhớ cảnh sơn lâm , bóng cả , cây già,
Với tiếng gió gào ngàn , với giọng nguồn hét núi . Với khi thét khúc trường ca dữ dội ,
Ta bước chân lên , dõng dạc , đường hoàng , Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng , Vờn bóng âm thầm , lá gai , cỏ sắc .
Trong hang tối , mắt thần kinh đã quắc , Là khiến cho mọi vật đều im hơi . Ta biết ta là chúa tể của muôn loài ,
Giữa chốn thảo hoang không tên , không tuổi . Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối , Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội , Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy phần riêng bí mật ?
-Than ôi ! thời oai liệt nay còn đâu ?
o0o
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu , Ghét những cảnh không đời nào thay đổi , Những cảnh sửa sang , tầm thường , giả dối :
Hoa chăm , cỏ xén , lối phẳng , cây trồng ; Giải nước đen giả suối , chẳng thông dòng Len dưới nách những mô gò thấp kém Dăm vừng la hiền lành , không bí hiểm , Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả , âm u . Hỡi oai linh , cảnh nước non hùng vĩ ! Là nơi giống hầm riêng ta ngự trị , Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa , Nơi ta không còn được thấy bao giờ !
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán Ta dương theo giấc mộng ngàn to lớn Để hồn ta phảng phất được gần ngươi ,
-Hỡi cánh rừng ghê của ta ơi !
( Mấy vần thơ , tập mới )
TRANH NGŨ HỔ
Trong quan niệm dân gian , hổ tượng trưng cho sức mạnh . Dân gian đã thần thánh hóa hổ
, cho nó một sức mạnh thiêng liêng diệt trừ được ma quỷ . Có hình hổ trấn giữ ở ngưỡng cửa thì tà ma không dám thâm nhập . Bởi vậy , hình tượng con hổ trở thành phổ biến trong nghệ thuật dân gian Việt Nam , được vẽ thành tranh để thờ cúng ở các đền , điện .
Có nhiều loại tranh hổ : bạch hổ , hắc hổ , ngũ hổ … Trong đó tranh “ ngũ hổ ” là nổi bật hơn cả . Tranh “ ngủ hổ ” còn gọi là tranh “ ông năm dinh ” tượng trưng cho năm vị thần tướng ngự trị năm phương trời nên các nghệ nhân khi vẽ tranh hổ , ngoài chòm râu ánh mắt dữ tợn của hổ được vẽ bằng màu vàng kim , dân gian còn vẽ năm con năm màu nhất định .
1.Hoàng hổ tướng quân màu vàng trấn nhậm trung khu ( đặc khu)
2.Hắc hổ tướng quân màu đen trấn nhậm bắc khu (thuỷ khu )
3.Bạch hổ tướng quân màu trắng trấn nhậm tây khu ( kim khu )
4.Xích hổ tướng quân màu đỏ trấn nhậm nam khu ( hoả khu )
5.Thanh hổ tướng quân màu xanh trấn nhậm đông khu ( mộc khu )
Trong tranh hổ , nghệ nhân dân gian đã vẽ các đám mây do các đường cong gãy khúc nối nhau , lớp trong lớp ngoài cuồn cuộn gợi cảm giác về sự xếp đầy nhưng nặng nề và đằng sau nó ẩn giấu một điều gì thần bí thiêng liêng .
Nếu so sánh với tranh hổ Trung Quốc , hổ có hình bát quái ở trán , miệng ngậm kiếm thì tranh hổ ở Việt Nam không cóhình bát quái . Tranh hổ của Trung Quốc là hình năm con hổ màu xanh lá cây và màu vàng đứng thành vòng vây quanh đồng tiền . Tranh “ ngũ hổ” của Việt Nam vẽ năm con hổ năm màu tượng trưng cho trung tâm và bốn hướng đối với bố cục cân đối .
Nhìn chung tranh dân gian vẽ hổ có sự phối hợp đường nét , hình khối , đầy sức sống mãnh liệt , miêu tả hổ với thân hình vạm vỡ , chắc , khoẻ trên thế ngồi vững chắc của hai chân trước và nếu gạt bỏ cái vỏ tôn giáo đó , đấy là những bức tranh có giá trị nghệ thuật cao .
CON HỔ ĐÁ Ở LĂNG TRẦN THỦ ĐỘ
Bây giờ đến Vũ Thư , Thái Bình , ta sẽ gặp một con hổ đá nằm im lìm giữa hoa hoang cỏ dại trong di tích hoang tàn lăng Trần Thủ Độ . Đây là một tác phẩm nghệ thuật đẹp trong nền nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam .
Con hổ được đặt trong thế nằm , dáng ung dung . Hai chân trước của nó soải dài , chân sau thu gọn trong bụng . Đầu ngẩng cao , đôi mắt lim dim , đôi tai dỏng lên như đón nghe một tiếng động nào vọng từ nơi xa thẳm . Khối hình hổ đá không cao hơn hổ thực ngoài đời . Nhưng nghệ thuật chạm đá cỗ đã dựng lên một hình tượng có sức lay động trong tình cảm người xem . Đây là
một tác phẩm chứa đầy chất hoành tráng . Đứng trước nó, trong khung cảnh một công trình tưởng niệm , người có công tạo dựng triều Trần , giữ gìn sơn hà xã tắc , trên mãnh đất Thiên Trường quê hương quê hương , của dòng họ nhà Trần kiêu dũng , ta thấy bừng lên chất sử thi bi tráng . Người tạc tượng đã đưa vào đấy sức sống tinh thần một thời oanh liệt của một con người trí dũng
, toàn tâm , toàn y vì đất nước . Trong nền điêu khắc cổ Việt Nam mô típ “ hổ vồ mồi ” , “ hổ trong trăng ”, “ hổ và đại bàng ” … thường được dùng để diễn tả một sức mạnh , một ý chí và khai thác chất thơ trong cái hùng của loài thú sơn lâm . Nhưng ở đây , ngay từ sự khởi tứ , tạo dáng , người nghệ sĩ đã tránh được đường mòn trong nghệ thuật cổ nước ta khi mượn hình tượng hổ . Họ không dùng cái “ cương ” để thể hiện sức mạnh , cũng chẳng “vẽ mây để vờn trăng ”, mà dùng ngay cai “ nhu ” , cái “ mềm ” để biểu hiện chất “ hùng ” , chất “ thép ” , khai thác nó ở ngay những hình ảnh bình thường nhất nhưng mang đầy ý vị của trí tuệ đã trải đời .
Ngôn ngữ của đá được dùng không cầu kỳ hoa mỹ mà giản đơn táo bạo . Vẫn là những khối nổi chìm chuyển đổi , nhịp nhàng , dứt khoát . Chất thô , ráp của đá được giữ nguyên vẻ mộc mạc như thường thấy ở phong cách nghệ thuật Trần . Nhưng bút pháp diễn tả là một sự thần tình . Đó là sự kết hợp nhuần nhị giữa nghệ thuật tả thật và cách điệu , mà không gây sự vênh , ngượng , bất hợp lý .
Hãy xem con hổ nằm kia đằng sau khoảng ngực rộng phẳng , tưởng như có hơi thở phập phồng , dưới lần da đá thô, ráp có sự lưu vận của khí huyết . Toàn bộ sức sống căng thẳng , sôi sục được ẩn giấu ngay sau vẻ “ hiền từ ” , “ lim dim ” dường như bất động của hổ . Đặc biệt đuôi hổ được tác giả tạc với một nghệ thuật địêu liều lỉnh tới mức phi lý . Cái đuôi là một khối kỷ hà vuông thành sắc cạnh , bất chấp tỷ lệ giải phẩu học . Nhưng xét trong tương quan giữa các chi tiết và tổng thể , rồi lại đặt nó trong môi trường ngoại thất của lăng thì thấy nó được tri giác con người chấp nhận một tư cách tự nhiên . Bởi vì xét về mặt khoa học , cái đuôi hổ tiềm chứa một sức mạnh vũ bão . Đồng thời với tiếng gầm , cái đuôi hổ khi đã quật xuống thì có thể bừng dậy bất thần để làm nên bao chuyện “ khinh thiên động địa”,
Người xưa bảo “ nghệ thuật khởi phát từ cái tâm , cất cánh cái tài , trở nên độc đáo qua sự kiếm tìm và biết dừng lại ở chổ đáng dừng trong quá trình sáng tạo ”. Con hổ đá ở lăng Trần Thủ Độ đã nói đầy đủ được điều cần có cho sự thành công của một tác phẩm nghệ thuật .











