12 CON GIÁP
TRÒ DIỄN DÂN GIAN VỀ CỌP
TRÒ BẮT CỌP
Làng Phú Bật là một trong sáu làng của xã Đông Phú ( Thanh Hoá ) . Theo truyền thuyết , làng có thời Đinh Tiên Hoàng . Thành hoàng cuả làng là một vị tướng thời Trần , có công chống giặc Nguyên . Hàng năm làng tổ chức tế kỳ phúc từ 10 tháng 2 đến 15 tháng 2 . Trong dịp làng mở hội có biểu diễn một số trò . Trò bắt cọp nằm trong hệ thống ngũ trò của làng . Trò này thường được biểu diễn sau trò chèo chải .
Nhân vật và trang phục
-1 trưởng trò
-1 quan võ
-12 lính
-1 người hoá trang thành cọp Các trò phải tự hóa trang cho đúng vai mình , đặc biệt người đóng vai cọp phải hoá trang cho thật khéo ( Cọp có đủ tai , đuôi ) để gây chú ý .
Trình diễn : Đầu tiên quan võ và lính ra đi . Quan võ đi đầu , theo sau là 12 lính . Quan võ và lính kéo nhau đi vòng tròn ( theo chiều ngược kim đồng hồ ) sau đó vào . Tiếp đó cọp xuất hiện . Từ phía trong cọp đi ra , cọp đi vòng quanh một lượt sau đó biểu diễn các động tác như : rình mồi , vồ mồi … Sau đó cọp đi vào .
Sau khi cọp vào . Quan võ và lính kéo ra . Quan và lính xếp hình chữ nhật . Quan võ bước lên hai bứơc và hát :
Chẳng lo phải giáo phải gươm
Tay không bắt cọp , dọn đường cứu dân . Hát xong , quan võ và lính đi thành hình tròn . Quan võ đứng giữa , lính đứng xung quanh . Cả quan võ và lính tập trận . Tập trận xong , quan võ và lính bày thế để đánh cọp . Quan võ đứng giữa và 12 lính xếp thành hình vuông , mỗi cạnh để một cửa rộng . Khi thế trận đã giàn xong , trưởng trò cầm mèn đánh gấp và cọp lại xuất hiện .
Cọp đi vòng quanh thế trận để tìm cửa vào . Đến vòng thứ ba cọp nhảy vào trong . Sau khi cọp vào trận , quân lính khép chặt cửa lại . Quan võ đánh nhau với cọp , quân lính tạo thế bao vây . Sau một lúc đánh nhau cọp bị quan và lính bắt sống . Quân lính tập trung lại khi cọp đi vòng tròn ba lần , sau đó đi vào dân chúng vỗ tay reo hò.
TRÒ VĂN VƯƠNG
Trò này có hai nhân vật chính : con hổ và người đi săn . Người đóng hổ đội lốt hổ , lông vàng , trán trắng . Người đi săn tay cầm lưởi rách , sọt , vồ, cọc … những đồ dùng cần thiết cho việc săn bắt . Nhân vật này cũng chịu trách nhiệm xướng lời ca trong khi biểu diễn , còn gọi là người giao biện . ( Có lẽ cùng một từ để chỉ người cắt đặt cộng việc như : nhân vật biện , xuất hiện nhiều ở thế hệ thống trò Bôn ) . Ngoài hai nhân vật này , còn có 16 người nữa đứng sắp hàng thành hình chữ U. Hai súng ( kiểu hoả mai) ở trước , hai súng ở sau . Một người đứng ngoài vòng chữ U , một tay cầm đèn , một tay cầm trống nhỏ . 12 người khác cầm giáo . Người đóng hổ ngồi chòm chõm ở chính giữa
Người giao biện mang các thứ để đi săn chạy ra , đọc bài hát như sau :
Hỡi các cơ đội ta Súng ống bày ra Xở đi tuần điệp
Nghe truyền cú pháp Chẳng được cậy cường Nào là chú Cán
Thiên thiên vạn vạn
Lực sĩ tinh binh Cứ phép sai hành Xông vào lão thú Bắt con lão hổ
Chịu mạng lựu công Vua bán sắt đồng Cho hàng cơ ta
Ơù hàng cơ ta
Đóng áng cho nghiêm
Bắt con hổ lang
Tuyệt tự hổ lang
Mang ra cung tiến đức đại vương
Đức đại vương phù hộ cho xã ta gồm văn võ thịnh
Lời ca dùng thể bốn chữ như vậy , nên âm nhạc còn ở trình độ thô sơ . Người giao biện xướng và giơ các dụng cụ đi săn trước mặt hổ . Hổ nhảy chồm lên , hai bên vờn qua vờn lại . Trống nổi lên
. Mười hai tay giáo và bốn tay súng cùng chuyển đội hình đồng loạt cùng lui tời theo các chiều vờn ngang dọc của người và hổ . Hình chử U lượn trên diễn trường , chao đảo cho đến khi lời xướng đến câu cuối cùng thì khép lại vòng tròn , dồn vào tâm . Như thế là đã bắt được hổ . Các diễn viên bỏ giáo , súng và các dụng cụ khác , xúm lại khiêng hổ
TRÒ SĂN HỔ TRONG HỘI GIÓNG
Vào giờ thìn , phường Aûi lao diễn trò săn hổ . Trò săn hổ tượng trưng cho sức mạnh hùng hổ đã phải quy phục ông Gióng . Đoàn múa trong đoàn này còn gắn với truyền thuyết vua Lý Thái Tổ nhớ ơn Thiên tướng đã gởi ca múa đến cung tiến thờ thần .
Tất cả các vai diễn đều mặc áo dài thâm , chít khăn thâm , đi chân đất , thắt lưng xanh bỏ múi bên sườn trái , trừ ngừi đội lốt thổ . Trò diễn gồm :
-Một người đánh trống nhỏ .
-Một người đánh mèn .
-Một người đóng vai đi săn cầm cung nỏ hay súng .
-Một người đóng vai đi câu , cầm cần câu .
-Hai người cầm cờ lau đóng trẻ chăn trâu . Cờ lau là hai cái gậy dài , đầu gậy buộc chùm tua giấy ngũ sắc làm bông lau .
-Một người đội lốt hổ .
-Mười hai người đánh sênh và hát .
-Một ông trùm . Trước khi diễn trò này , phường đến trước sàn đền vừa múa vừa hát theo nhịp sênh . Sau đây là trích đoạn một số lời ca :
Cây cây gạo là là cao á cao Trừ á lên là là trèo á lên Cây cây gạo là là cao á cao
Đồn mà rằng là là có mà hội
Vui á sao là là vui á này !
Phù phù hộ là là cho á tôi Khấn á giời là là khấn á giời Phù phù hộ là là cho á tôi Để mà tôi là câu mà lấy
Một một người là là thanh á tân
Đội hiệu cờ vào lễ xong , phường Aûi Lao bắt đầu diễn trò săn hổ thờ thánh . Vai hổ tiến lên trước , bước vào chiếu nhất , đứng thẳng lên bằng hai chân sau hơi choải ra . Hổ quỳ xuống , đầu cuối xuống rồi đứng dậy lùi lại một bước . Hổ làm động tác trên 4 lần rồi hướng về bên trái tượng Gióng . Tiếp đó , hai người cầm cờ lau , hai người trống con và mèn , hai cầm cần câu và cung tên vào quỳ gối , chắp tay lễ rồi trông sang phía hổ , động tác của họ ăn khớp với nhịp trống và mèn .
Sau đó , 12 người cầm sênh tiến lên đứng vào chiếu xếp thành hai hàng , gài sênh vào thắt lưng , đứng chụm chân , hai cánh tay gấp và nâng lên ngang vai , bàn tay ngửa về phiá bàn thờ , sau quay sang trái và quay sang phải . Họ làm động tác này 4 lần , cầm sênh gõ 4 tiếng , rồi chia thành hai hàng đứng hai bên . Ba tiếng trống đánh lên , cả phường đồng thanh hát đi hát lại 6 lần bài hát sau :
Đắp đắp luỹ là là cây á thành
Lập á đồn là là lập á đồn
Đắp đắp luỹ là là cây á thành
Bên mà ngoài là là trống mà điểm
Bên bên trong là là đi á tuần
Bên bên trong là là đi á tuần
Sênh , trống , mèn được đánh lên để giữ nhịp và được cách điệu thành động tác múa. Người đánh trống đánh xong ba tiếng mở đầu , các cặp sênh liền lên tiếng giữ nhịp . Mỗi câu hát được ba tiếng sênh điểm , còn trống cừ đánh hai tiếng khoan , ba tiếng mau :tiếng cuối bao giờ cũng hòa với tiếng sênh .
Bài hát chấm dứt , ông trùm đứng ra nói lớn :
-Chiềng hàng đội , đền đây có ông hổ lang . Ai nhân tài ra bắt , chúa hội thưởng . Hổ nhảy múa nhiều động tác rất đẹp mắt . Người săn cầm cung và người đi câu xuất hiện , vừa làm động tác khoa trương vừa đối thoại :
-Tôi với anh
-Anh với tôi
-( Vỗ ngực khoe khoang ) Mạnh đã có tôi
-(Làm vẽ hớn hở xắn tay áo ) Bạn đã có tôi !
-( chỉ tay về phía hổ tỏ vẽ sợ sệt ) Tối trời tối không dám
-( Lo lắng nhìn trước sau ) Có làm sao anh lôi tôi cho chóng .
Họ vờn múa , đối đáp trong tiếng kèn , tiếng trống . Điệu múa bắt hổ diễn ra trong tiếng nhạc , tiếng hát của phường Aûi Lao . Nội dung lời hát này không liên quan gì với việc săn hổ . Rồi hai người đi săn giương cung bắn , hổ bị thương lăn đùng ra chiếu , hai người nhảy vào bắt trói trong tiếng hát của phường Aûi Lao .
Sau đó cả phường đứng vào làm lể trước bàn thờ rồi ra về trong tiếng hát ca ngợi chiến công .
Huyền thoại LÀNG BẮT CỌP
Thăm thú những di tích , lăng tẩm , đền đài của cố đô Huế hẳn khách không thể không lưu tâm đến một địa chỉ rất độc đáo : Hổ quyên – đấy là nơi làm đấu trường giữa voi và cọp cho vua và quan lại triều đình giải trí như thể ngày nay ta coi …xiếc , như người Tây Ban Nha coi các Matador đấu bò tót với vuông vải đỏ . Chuyện của hổ quyên xin dành cho người hướng dẫn du lịch , nhưng để có những con cọp nhốt trong chuồng sắt , mỗi năm vài lần mở cửa sắt đấu với voi
, thì không phải ai cũng biết rằng đó là do cư dân ở một làng Quảng Trị bắt để cống vua và triều đình . Một loài với nghề bắt cọp đã thành huyền thoại : Làng Thủy Ba .
Có nhiều xứ đất với voi dữ đã đi vào thành ngữ , tục ngữ : miền bắc có cọp bảo hà , cọp Trái Hút , phương nam có cọp Khánh Hoà , ma Bình Thuận , và với cái dải đất eo thắt miền trung này là cọp Thuỷ Ba , ma Trộ Rớ là vùng đất phía tây Quang Bình nổi tiếng là rừng thiêng nước độc , người làm sơn tràm kiếm trầm đã lên Trộ Rớ không sốt ác tính cũng bị lũ nguồn quật chết , còn Thuỷ Ba – một làng phía tây huyện Vĩnh Linh thì nổi tiếng về cọp dữ . Cọp Khánh Hoà nhiều cọp và dữ cũng ở chỉ mức bắt bò , bắt người là chuyện thỉnh thoảng . Nhưng cọp Thuỷ Ba thì táo tợn và hung dữ hơn nhiều . Cũng do đất nghèo , cọp không kiếm đâu ra trâu bò , đói quá phải lần tìm bắt người . Và như thế , như một câu tục ngữ phương tây : “Sống cạnh chó sói , cừu cũng phải mọc nanh ” . Nghề bắt cọp bắt nguồn từ đó . Huyền thoại kể nhiều những điều bí mật về những tính nết cọp : “rằng con cọp khi vồ mồi , không kể người hay trâu bò , nếu vồ trúng phải tai , không bao giờ ăn”. Nhiều lão làng ở Thuỷ Ba đều thừa nhận như vậy và cho biết không hiểu vì sao . Hoặc khi cọp bắt người tha vào núi , bao giờ cũng dựng mới ngồi hoặc nằm tựa vào một gốc cây nào đó rồi mới ăn thịt . Cọp ăn mồi cũng rất lạ luôn móc mắt , lôi tim , gan , ruột rồi ăn trước . Nếu gặp con mồi do cọp ăn thịt dở dang bỏ lại thì mà ăn ngược từ chân lên thì gọi là cọp trổ mồi . Con cọp nào mà trở mồi là điềm báo thì thế nào nó cũng chết vì người săn hoặc bẫy . Cọp Thủy Ba khôn đến mức người dân phải gọi nó là cọp thành tinh . Cọp dữ nhưng người nào cũng phải làm hàng rào trước rồi vọt ra theo , cắp người chạy tuốt vào rừng . Hầu như không một xóm nhỏ nào ở Thuỷ Ba lại không có người bị hổ vồ . Muốn bắt cọp , con người phải dùng lưới bện bằng dây sót – một loại dây leo mọc tận rừng sâu . Sự dẻo dai của nó mới có thể trị được những cú hút lúc sa cơ của chúa sơn lâm . Thân cây sót chặt về , dùng chày gỗ đập đập ra ngâm nước vôi chừng vài tuần .Bột gỗ rữa ra còn lại sợi . Sợi sót chập làm ba , làm tư to bởi ngón tay cái rồi bện lại thành lưới . Mỗi mắt lưới rộng vừa lọt nắm tay . Triêng dưới bện làm mây song , mỗi tay lưới dài 12 mét , rộng 3 mét , nặng đến hai đòn khiêng . Làng Thủy Ba xưa có 4 thôn : Thượng , hạ , đông , tây chia làm sáu phường săn – gọi là sâu – mỗi sâu tự sắm sữa từ 4 đến 6 tay lưới do một trưởng sâu chỉ huy . Chỉ trừ con cháu các nhà giàu học hành đỗ đạt hay làm chức sắc , còn thì tráng đinh từ 17 tuổi trở nên đành phải gia nhập phường săn cọp .
Khi có cọp về bắt người làng hoặc người đi làm gặp dấu cọp dằm , lốt chân cọp thì tức tối báo cho phường . Trưỡng sâu và các chức sắc họp , cử người theo dõi (gọi là dọi dấu ) của cọp xác định vùng cọp ẩn nấu , phán đoán và cần xác định vùng cần bủa vây . Người được gọi dấu phải rất tinh , chỉ nhìn lốt chân cọp in trên mặt đất mà phán đoán cọp lớn hay cọp nhỏ , hiền hay dữ , hiện đang cách họ bao xa . ……Người dọi thấy dấu thì báo cho làng để làm lễ xin rải lưới gọi là lễ thượng vong , lễ này theo lệ phải giết chết một con gà trống rồi xem chân gà mà bói quẻ tốt xấu . Sau đó , người chỉ huy cho các sâu dựng lưới vây quanh vùng cần bủa vây gọi là ải , có khi ải rộng đến 1 hecta , lưới bện làm bằng sót dựng lên hơi ngả vào trong chừa lại một phần tư đường tròn dùng làm cửa ải . Cùng với việc vây lưới quanh ải là phát quan khu rừng trong ải thành ba đường để chia ải thành ba khoảng cách biệt nhau . Một số cây cao trong ải cũng được triệt hạ để đề phòng cọp leo lên nhảy vọt qua lưới . Một số sâu được phân bố cầm mác , mạng chờ sẵn ngoài vòng lưới , một bộ phận gồm những người gan góc , khỏe mạnh , lùng sục dồn cọp vào lưới . Khi hồi chuông , trống gíong lên , thúc dồn ngũ liên , người phường trưởng la lớn :
“Thủy Ba đứng dậy cho đều
Nghe tiếng ta reo , hùm vọt dậy ”
Người bốn phía cùng hô lên đồng thanh : “Reo , reo , reo ………” Họ vừa hô vừa khép chặt vòng vây , cọp từ một trong ba khoảng rừng kia lập tức lao vọt qua khoảng rừng khác , mọi người lập tức nhỗ lưới đẫy vây lấy khoảng rừng cọp vừa rúc vào . Cọp là giống thú tinh khôn và hung dữ , lúc là bị dồn vào thế cùng , nó lại càng dữ tợn hơn bao giờ hết . Thường lúc này nó thường nằm im trong các lùm cây rậm , đến lúc thật nguy cấp , nó bất thần nhảy ra tấn công phường săn . Những người vào ải nhanh chóng phản xạ với miếng võ gia truyền là thiên lôi giáng . Cọp nhảy vọt lên thật co rồi phủ xuống đầu người và cắn xé , người cầm nạng sẽ cầm ngược nạng lên hất ngược cọp nhào trở lại . Khi vòng trong vòng ngoài hò reo , cọp hoảng hồn vọt khỏi chỗ nấp . Đây là lúc quyết liệt nhất , một con cọp lao đầu vào lưới , hai là trực diện với những người cầm mác , cầm nạng , không ít người đã bị cọp tát cụt tay , gãy đùi . Nhưng đây cũng là thời điểm phấn khích , hào hứng nhất của cuộc săn . Không còn lo sợ , quên cả nhọc nhằn , người săn thú chỉ còn một thứ men say bừng bừng , quyết hạ bắt cọp . Tiếng thanh la , trống mõ , tiếng hò reo cứ đỗ dồn , chúa sơn lâm khi sa cơ thất thế cũng …..hèn . Vuốt sắc bấu vào mắt lưới , vừa gầm thét điên dại , tiếng gầm của kẻ sa cơ tuyệt vọng khiến cho người cứng vía nhất cũng phải dựng tóc gáy . Mặc cho cọp vùng vẫy , lưới vẫn bị ép sát , dồn cọp vào khu đất nhỏ hơn , lưới được khoá kín , ba bốn ngày cọp la hét vùng vẫy , lại thêm đói , nên kiệt sức dần . Khi ấy , mọi người tìm cách dồn cọp sang một rọ lớn bằng mây song , rồi từ đó dồn cọp sang một rọ nhỏ hơn , đóng bằng gổ như kiễu “cũi ” gọi là rọ kẹp . Người chỉ huy cuộc săn sẽ vinh dự đeo lục lạc vào cổ cọp . Bấy giờ làng mới làm lễ cúng xôi gà gọi là lễ hạ vong .
Tiếng tăm làng bắt cọp Thuỷ Ba đã vọng tới kinh thành , khiến cho triều đình nhà Nguyễn lệnh về sức tráng đinh làng Thuỷ Ba vào tận kinh đô , ngược thường nguồn sông Hương để bắt cọp về phục vụ các trận sát đấu voi – cọp ở Hổ quyền . Dân làng Thuỷ Ba còn truyền tụng một bài vè về việc vào kinh bắt cọp :
“Mồng sáu sắc hạ vua ra
Tư tờ xuống huyện đòi Thuỷ Ba đi liền
Đòi vô làm “ ải ” Thừa Thiên
Dữ ma độc nước không yên chăng là…”
Bài vè lần lượt kể tường tận chi tiết từng ngày , mồng 6 vua ban sắc hạ thì qua mồng 8 dân hạ heo làm lễ tế xuống thuyền vào kinh đô . Vào tới Huế , đoàn lùng sục một ngày không “ dọi ” được dấu cọp bèn chia làm hai nhóm :một nửa gồm 50 người quay về vì thiếu lương thực , nữa kia tiếp tục tìm kiếm lên phía Tuần ( vùng lăng Minh Mạng bây giờ )… sau bao phen vất vả , đoàn người phải hạ heo tế trời đất , xin cho gặp cọp , rồi dùng trâu làm mồi nhử cọp , đến lúc cọp về bắt trâu thì truyện giăng ải bắt cọp cũng y như bài bản ở quê. Điều đáng nói là bài vè kể khá nhiều về nổi gian truân trên hành trình bắt cọp dữ , để rồi cuối cùng , khi cọp bị nhốt vào cũi lúc ấy vua quan mới :
“ Cắt dân vén lên hết hai bên ( vén từ địa phương : dọn dẹp ) Vua quan ngài ngự cùng lên ải này …”
Từ kháng chiến chống Pháp , đạn bom làm cọp chạy lẫn vào vùng sau , nghề bắt cọp cũng không còn như xưa , hy hữu cọp về làng mới gặp lại hình ảnh các phường săn tay lười , tay lao , vây làng trên xóm dưới , có tiếng rao vang theo tiếng mõ dồn : “ cốc cốc loa loa-lệnh làng đã ra chiêng làng đã đánh , mõ tôi rao : Xóm dưới hàng trên hãy nghe cho rõ : Trên có quan viên , dưới dân ba hạn – người có sức vác mác cầm nạn , dân ba hạn gánh lưới cầm dây . Đàn ông lên ải , đàn bà nấu cơm , trên binh đi trước làng nước theo sau ; cốc cốc loa loa cọp về quấy phá làng Thuỷ Ba ra tay , ngay sớm ngày mai về tụ nhà sâu cho đủ …”
Nhưng cọp đất hết thì sinh … cọp trời , làng Thuỷ Ba , xã Vĩnh Thuỷ – huyện Vĩnh Linh , Quảng Trị đã có một ngày bắn tan xác máy bay và bắt sống bốn phi công Mỹ –đấy là ngày 11-
11-1966 . Tại nhà truyền thống của xã , tay lưới sót để bắt cọp xưa nay được đặt cạnh chiếc ghế máy bay rơi – một hình ảnh thú vị.
Đất nước gian nan nên con người quật cường . Làng Thuỷ Ba đã đối đầu với cọp dữ để có một nghề rất thượng võ có một không hai . Trong biên niên năm tháng của người Việt , những mảnh làng như Thủy Ba xứng đáng được kể đến như một phần bản lĩnh , ý chí và nghị lực sống của cộng đồng người Việt .
NGUỒN GỐC , ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI HỔ VÀ CÔNG DỤNG CỦA CAO HỔ CỐT
A. NGUỒN GỐC – ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
Trong họ Mèo , con hổ là loại động vật to khoẻ nhất . Đầu to tròn , cổ ngắn , tai nhỏ ngắn ; bốn chân to khoẻ , móng rất sắc và nhọn , đuôi dài bằng nữa thân .Một con hổ trung bình nặng 150 –200 kg , thân dài 1,5m đến 2m , đuôi dài 1m . Hổ đông bắc Trung Quốc có thể nặng tới 300 kg . Da hổ màu vàng , có vằn đen , phía bụng và phía trong chân có lông trắng .
Tính sơ lược Hổ có tất cả 8 giống . Đây là động vật đặc trưng ở Châu Á . Hổ cũng có ở cả Châu Phi , Ấn Độ … Hổ thường sống một mình ở những vùng rừng núi nhiều cỏ tranh . Tuy nhiên trong thời kỳ giao cấu hoặc thời kỳ nuôi con , con đực con cái và hổ con thường sống quây quần với nhau . Chỗ của nó không cố định . Ban ngày nằm phục tại một chổ , ban đêm mới hoạt động tìm ăn . Thức ăn của nó là hươu nai , sơn dương hay loài ăn cỏ khác như lợn rừng , đặc biệt
có thể tìm bắt những súc vật nuôi như chó , trâu , bò , lợn có khi ăn cả người . Mỗi con có thể đẻ
2-4 con ; sau 3-4 năm thì trưởng thành .
Con hổ có giá trị kinh tế rất lớn , thịt hổ ăn ngon và bổ , da hổ thuộc để trang trí hay nhồi thành con hổ ; xương hổ dùng để làm thuốc . Tại miền rừng núi Việt Nam không thấy mấy nơi không có hổ nhưng nổi tiếng có hổ Hoà Bình , Tuyên Quang, Bắc Kạn , Thái Nguyên và miền núi Trường Sơn trung bộ .
B.CÔNG DỤNG –CÁCH CHẾ BIẾN XƯƠNG HỔ VÀ CAO HỔ CỐT
Săn hổ có thể dùng bẫy bắt sống hay dùng tên độc , súng săn . Mùa săn quanh năm . Tuỳ theo con to con nhỏ mà bộ xương to nhỏ . Nếu hổ nhỏ quá vừa ít thịt , xương nấu cao hiệu suất và phẩm chất cũng kém hơn . Trung bình một xương hổ nặng 10-12 kg , có thể 15-16 kg ; con nhỏ chỉ cho 4-5 kg . Căn cứ vào sức nặng của bộ xương người ta xác định được giá trị và phẩm chất của cao và do đó giá mua 1 kg xương hổ có khác nhau . Bộ xương hổ nặng dưới 4 kg được coi là loại xấu .
Toàn bộ xương hổ đều tốt , nhưng xương 4 chân và xương đầu được coi quý hơn cả , đặc biệt xương cẳng chân trước được coi là không thể thiếu được , một là vỉ tỷ lệ những xương đó chiếm phần chủ yếu , hai là vì xương cẳng chân trước ( humerus) có một lổ hổng đặc biệt gọi là mắt phượng có thể dùng phân biệt thật giả . Ví dụ trong một bộ xương hổ nặng hơn 6 kg thì xương đầu nặng 1 kg chiếm 15% toàn bộ trọng lượng bộ xương . Xương 4 chân nặng 3,390 kg chiếm 52 % . Xương sống (kể cả xương cổ ) nặng 0,900 kg chiếm 14% . Xương sườn ( 13 đôi ) nặng 0,355 kg chiếm 5,5 % ( không có xương ức ) . Xương chậu nặng 0,355 kg ( cả hai mảng ) chiếm 5,5% . Xương bả vai nặng 0,260 kg chiếm 4 % . Xương đuôi nặng 0,146 kg ( kể cả xương cùng) chiếm 2,2% . Hai xương bánh chè nặng 0,030kg chíêm 0,45% . Người ta dùng nguyên xương hổ đã lọc bỏ hết gân thịt hoặc dùng xương đó nấu thành cao hổ cốt mà dùng .
CÁCH NẤU CAO HỔ CỐT
Xương hổ toàn bộ , số lượng tuỳ theo có nhiều ít . Nước vừa đủ để nấu theo kỹ thuật giới thiệu ở sau đây :
Việc nấu cao hổ cốt trước đây thường chỉ nấu ở miền rừng núi vì ở miền đồng bằng người ta mê tín cho rằng nấu cao hổ cốt trong nhà thì có nhiều sự không may . Hiện nay các xí nghiệp nấu đã có dịp nấu như thường .
Tại miền núi cũng theo kinh nghiệm trong nhân dân ít khi người ta sử dụng xương hổ , mà phối hợp với xương nhiều con vật khác và các vị thuốc thảo mộc khác như thiên niên kiện , địa liên … .
Người ta cho rằng khi nấu tốt nhất kiếm đủ 5 bộ xương hổ , một bộ xương khỉ , một bộ xương sơn dương ( một loại dê rừng ) vì xương hổ là vị chủ yếu ( quân ) có kèm theo hai vị thần , nghĩa là có vua có quan .
Nếu xương hổ vừa lấy ở con hổ ra thì cần đem cạo hết thịt rồi cho vào một cái giỏ lớn bằng tre thật chắc : đem ngâm trong một dòng suối nước chảy vòng 15 – 20 hôm . Trong thời gian này thịt còn sót lại sẽ thối rữa ra và trôi theo dòng nước . Sau đó người ta treo giỏ xương lên cành cây cho khô. Trước đây ngừoi ta cho làm như vậy để “ khu phong” nghĩa là loại bỏ các khí xấu . Thực tế chỉ là loại bỏ mùi hôi thối của thịt bị rữa nát khi ngâm trong suối . Thời gian cũng dài chừng 15-20 ngày .
Chế như vậy xương sẽ sạch không có mùi hôi . Lấy chày đập thành mảnh nhỏ để dễ rửa cho sạch hết tuỷ . Ngâm trong 24 giờ ( một ngày đêm ) vào nước luộc rau cải ( loại rau ta vẫn luộc ăn hay muối dưa ) chưa rõ rau cải cho vào đây làm gì .
Ngày hôm sau lại rửa xương bằng nước rồi lại ngâm xương vào rượu có ngâm gừng ( có lẽ để cho đỡ mùi hôi tanh ) .
Cuối cùng lấy ra , cho vào cho đủ ngập chừng vài cm rồi nấu nhiều lần như nấu cao Ban long ( xem vị cao ban long ) …hiệu suất trung bình là 100 kg xương cho chừng 30 kg cao : Vì xương hổ hiếm và đắt cho nên giá thành của cao hổ thường rất cao .
Trên đây chỉ là phương pháp nấu cao hổ trong nhân dân . Vì không cósách nào quy định, xương hổ cốt lại hiếm cho nên mỗi nơi nấu có khác nhau , ví dụ có nơi lại ngâm xương bằng nước lá dâu , lá trầu không , có nơi nấu lẫn với nhiều xương khác, lại có người săn được hổ nấu dùng riêng còn nấu xương khác bán giả làm cao hổ . Việc xác định còn gặp rất nhiều khó khăn . Tại nước ta ít khi thấy dùng xương hổ khô làm thuốc , nhưng tại Trung Quốc người ta còn dùng xương bốn chân , xương đầu và xương cổ của hổ . Nhưng loại xương màu vàng là tốt . Khi dùng lấy chày đập vỡ , cạo bỏ tuỷ , đổ bằng rượu hay bằng giấm . Rồi nướng trên than thành màu vàng nhạt dùng để sắc uống hay dùng ngay xương này để ngâm rượu .
Trong xương hổ có canxi , phốt phát và protit . Trong cao hổ cốt nguyên chất co 14,93 đến 16,66% nitơ toàn phần , 0,58 –0,745% axit amin . 19,88-26,16% độ ẩm , 2,6% độ tro , cho tính bằng axit clohydric 0,67% asen 5 phần triệu , canxi 0,08% , phốt pho tính bằng axit phôtphoric.
CÔNG DỤNG VÀ LIỀU DÙNG
Xương hổ và cao hổ cốt là một vị thuốc rất được tín nhiệm trong nhân dân , chủ yếu dùng trong những bệnh đau xương , tê thấp , đi lại khó khăn , đau nhức . Còn dùng trong những bệnh cảm gió , điên cuồng . Có khi dùng làm thuốc bổ :Nhưng thường hay dùng trong bệnh tê thấp nhức mỏi . Việc xác định giá trị chữa bệnh gặp khó khăn vì ít khi người ta chỉ dùng riêng xương hổ mà thừong dùng nó phối hợp với nhiều vị thuốc khác . Xương hổ lại hiếm , cao hổ lại hiếm , cao hổ cũng thường nấu lẫn với xương nhiều động vật khác .
Theo tài liệu cổ , xương hổ có vị cay tính hơi ôn , vào hai kinh can và thận . Có tác dụng khu phong làm hết đau , mạnh gân cốt ,trấn kinh . Dùng chữa gân cốt đau nhức , đi lại khó khăn
, chân tay co quắp . Nếu hồi hộp lo phiền thì nên dùng xương đầu , chân tay đau nhức nên dùng xương chân . Những người huyết hư hoả thịnh không dùng được .
Liều dùng trung bình của xương là 10-30 kg dưới dạng thúôc sắc , thuốc bột hay ngâm rượu . Nếu dùng cao mỗi ngày thì dùng 4-6 g hay hơn . Xương hổ , cao hổ cốt cũng như một số sản phẩm khác từ hổ đều có giá trị trị bệnh rất tốt . Có thể thấy điều đó qua các đơn thuốc sau :
1.Rượu hổ cốt chữa yếu xương , viêm xương . Có nhiều cách chế biến khác nhau :
a) Theo kinh nghiệm cổ truyền ghi lại trong ( hiện đại thực dụng trung dược ) của Diệp Quyết Tuyền : xương hổ sao vàng tán nhỏ 200 g , rượu tốt 700 ml . Ngâm trong vòng 10-15 ngày lọc lấy rượu . Thêm vào bả 300ml rượu nữa . Lại ngâm
10 ngày nữa .Lọc trộn đều hai mẻ rựơu đó với nhau , thêm rượu nữa cho đủ
1000 ml . Ngày uống 4 lần mỗi lần 10 –15 ml rượu này , uống sau bữa cơm để trị bệnh yếu xương , viêm xương .
b) Cao hổ cốt 40-60 g . Ngâm vào 1 lít rượu . trứơc khi ăn cơm hâm nóng mà uống , mỗi ngày dùng hai lần , mỗi lần 10-15 ml .
c) Cao hổ cốt 4-6 g , thiên niên kiệm 10 g , cốt toán bổ 10 g , đổ trọng 10 g , rượu tốt 1 lít . Ngâm trong 10-15 ngày . Lọc lấy rượu để uống . Ngày hai lần , mỗi lần 15 ml trứơc bữa ăn
d) Rượu hổ cốt ghi trong Dược điển Trung Quốc 1963 có hai loại : hổ cốt tửu và hổ cốt mộc qua tửu .
Trong một lit hổ cốt tửu chỉ có hơn 1 g cao hổ cốt ; trong hổ cốt mộc qua tửu cũng vậy . Ngoài ra hổ cốt tửu có tới 45 vị thuốc khác : hổ cốt mộc qua tửu ngâm thêm với 13 vị thuốc khác
. Xem như vậy xương hổ và cao hổ cốt chỉ chiếm một lượng rất nhỏ trong các thuốc có xương và cao hổ ( chi tiết các đơn thuốc này xem ở vị mộc qua )
2.Một hình thức dùng cao hổ cốt làm thuốc bổ dưỡng . Làm thịt một con gà giò vừa một người ăn . Mổ bỏ ruột . Cho vào bụng con gà này một miếng cao hổ cốt nặng khoảng 10-20 g . Rồi đặt con gà có cao hổ cốt trong bụng vào một cái liễn sứ hay ca tráng men có nắp . Thêm vào đó chừng một chén rượu nhỏ . Không cho một tí nước nào cả . Đặt tất cả vào nồi nước để đun cách thuỷ . Nước trong thịt của con gà bốc lên sẽ làm chín con gà và hoà tan cả cao và các chất trong thịt gà . Đun cho đến khi con gà chín nhừ . Chỉ lấy chất nước tíêt ra mà cho người yếu ăn . Có thể ăn cả thịt nhưng thịt rất bã , không ngon . Cách dùng cao hổ cốt này thường dùng cho những người mới ốm dậy ăn cho chóng lại sức. Có người nói ăn cao hổ cốt khi còn ít tuổi người sẽ nứt ra , nhưng đó chỉ là một giả thuyết không có cơ sở .
BẢNG PHÂN TÍCH MỘT SỐ LOẠI CAO
TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ CỌP Ở NƯỚC TA VÀ TRÊN THẾ GIỚI
CON HỔ VÀ CON CHUỘT ĐỒNG
(Truyện cổ Châu Phi )
Mọi người ai cũng biết rằng , hổ là một con vật rất kiêu ngạo , xong cũng nhiều lúc hổ lại làm những việc rất ngu xuẩn .
Một hôm , hổ đang trên đường đi lang thang , gặp chuột đồng đang bới đất làm tổ . Hổ muốn trêu chuột đồng để làm trò cười , nó lên tiếng gọi : “ này chuột đồng ” chuột ngẩng đầu hỏi : “ Anh gọi gì tôi ?” . Hổ mỉm cười và chậm chạp nói từng lời một : “ Trông mày buồn cừơi quá , tại sao mày chỉ ngắn có một mẫu thế chuột ? Thế cũng tốt đấy , người ta càng khó nhìn thấy mày ” . Nghe câu nói ấy chuột biết là hổ xỏ xiên , nói xấu mình ; chuột bèn trả lời : “ Anh bảo là tôi nhỏ thật không ?” . Hổ cười lớn “ Chẳng nhẻ mày mà to lớn hay sao ?” . Chuột cố ý vươn cao đầu và nói “ Tôi tuy nhỏ , thế mà con người nhìn thấy tôi là phải cúi lạy tôi đấy ”. Hổ thấy buồn cười về câu nói ấy quá , nó cố nhịn cười và hỏi chuột : “ Thật là nhảm nhí , chẳng bao giờ con người lại đi cúi lạy một con chuột nhép như mày ” . Chuột đồng lên tiếng : “ Nếu không tin thì anh xem đây ” , chuột đồng chỉ một đoàn người đang lúi cúi làm lụng dưới cánh đồng trước mặt và nói : “ Tôi sẽ bảo những người dưới đồng kia phải dừng tay mà cúi lạy tôi cho anh xem ” Hổ nghe xong cao hứng đáp : “ Được rồi , tao sẽ đứng đây xem mày bắt người ta cúi lạy mày”
Chuột đồng liền chạy xuống cánh đồng có người đang gặt hái , nó đứng trên bờ , dừng lại một chút , lại chạy đi chạy lại ngay trứơc mắt mọi ngừơi . Mọi người nhìn thấy chuột , người này gọi người kia , đuổi theo chuột ; nhưng chuột đồng là đứa ranh mãnh , nhanh nhẹn ; rúc vào chỗ này , nấp vào chỗ kia ; khiến mọi người đuổi theo cứ chạy loạn xạ và vấp ngã liên tục mà không sao chộp được chuột . Họ càng hăng lên , càng hò reo , vồ chuột , đuổi bắt ồn ào . Từ xa chỉ thấy đoàn người chạy loạn xạ , hết người này đến ngừơi khác cúi xuống vồ chuột giống như họ đang bái lạy vậy …
Một lúc sau chuột chạy thóat , nó quay lại chổ hổ đang ngồi quan sát đoàn người , hổ quá ngạc nhiên , không hiểu vì sao người ta lại quá sợ chuột như vậy . Chuột đến gần hỏi hổ : “ Thế nào , anh đã nhìn rõ chưa ?” . Hổ ngập ngừng , trả lời : “ Cái đó khó gì . Ta cũng làm đựơc ”
Hổ dặn chuột : “ Mày đứng đây chờ , hãy nhìn cho rõ ta sẽ bắt con người lạy tao cho mày xem !”. Nói xong , hổ liền bước đến chỗ đoàn ngừơi kia và đi đi , lại lại trước mặt họ .Mọi người nhìn thấy một con hổ lớn , liền hô hoáng , vác cuốc , cào , gậy gộc …đuổi đánh hổ . Hổ chạy phía nào cũng bị người ta đón đánh , phải vất vả lắm nó mới chạy thoát , người ta còn đuổi chạy theo cho đến khi hổ chạy hẳn vào rừng mới thôi …
Nhìn thấy hổ tả tơi chạy về , chuột bước ra hỏi : “ Thế nào , mọi ngừơi có cúi lạy anh không ?” . Hổ vừa quá mệt vừa quá sợ hãi , nó xấu hổ không biết nói gì với chuột được . Ngày nay , mỗi khi gặp chuột đồng , hổ vẫn tìm cách lẫn trốn đấy . Thật là nhục nhã cho hổ , mỗi khi có ai nhắc đến chuyện này
HOẴNG LỪA HỔ
( Truyện cổ Giava)
Một hôm Hoẵng đang uống nước thì nghe thấy tiếng hổ gầm rung chuyển cả núi rừng
.Hoẵng định chạy tháo thân nhưng không kịp . Từ một bụi rậm , hổ lững thững đi thẳng đến chỗ hoẵng đang đứng chôn chân .Hổ ta chắc mẫm phen này sẽ được một bữa thịt hoẵng no ne đã miệng , nên cứ thủng thẳng đi bước một chẳng vội vàng gì . Còn con hoẵng đã nhanh trí khôn bẻ một cành cây nhỏ xua đám ruồi muỗi đang bu đầy trên bãi phân trâu gần đó . Hổ đến ngay trứơc mặt nhưng hoẵng vẫn vờ như không hay biết gì , nó càng ra sức khua cành lá trên bãi phân trâu . Nhìn thấy thế , hổ lấy làm lạ , bèn hỏi :
-Này , hoẵng con , mày đang làm gì đấy ? Hoẵng vẫn lờ đi . Hổ tức quá , quát ầm lên :
-Mày điếc hay câm hử ?Đồ nhãi , có muốn ta xé xác ra không ! Lúc ấy Hoẵng mới làm ra vẽ bình tình nói :
-Anh thật đúng là loài lông lá hôi hám chẳng biết gì .Anh hãy mở mắt ra mà nhìn này ; Tôi đang canh giữ chiếc bánh ngọt cho ngài Su-le-man ( Vị tiên tri của đạo Hồi ) đây .
-Nói láo ! Ta là chúa sơn lâm đây sao ngài không giao cho ta mà lại giao cho mày giữ ?- Hổ quắc mắc hỏi .
Thấy vậy , hoẵng lại càng lên nứơc :
-Anh nói dễ nghe nhỉ . Món bánh mì này chỉ có tôi mới canh giữ được thôi . Anh ấy à , hôi hám thế kia làm sao thần lại giao cho một công việc hệ trọng này . –Mày cứ làm như là tao sẽ làm hôi cái bánh của ngài ấy – hổ nói đã dịu đi .
-Chứ sao !-hoẵng vênh mặt , - cái bánh này vừa ngọt , vừa thơm , vừa bùi , vừa béo . Ăn một miếng ấy cứ là ngọt cả ngày .
Nghe hoẵng nói , hổ đã thèm rỏ dãi , nó mon men đến gần bãi phân trâu và năn nỉ với hoẵng :
-Nếu ngon thế , hoẵng cho ta nếm thử một miếng nào ! Một miếng tí tẹo thôi , nào , hoẵng !
Biết hổ vốn háu ăn , hoẵng càng nói già :
-Không được ! Anh chớ có động vào ! Tôi canh giữ từ sáng đến giờ mà còn không dám ngửi nữa là anh . Cứ động vào thần Su-le-man , chúa tể của muôn loài sẽ trị tội cho đấy , chết không kịp ngáp thì đừng có mà trách tôi .
Mày doạ tao hả ? – Không nhịn được nữa , hổ gầm lên – Tránh ra để ta ăn bánh không thì ta xé xác bấy giờ .
-bình tĩnh đã nào , hoẵng nói – rồi anh sẽ được ăn , ăn hết cũng được . Có điều là , để tôi khỏi phải mang tội với ngài Su-le-man , trứơc khi anh ăn , tôi phải đi xa cho khúât mắt ngài đã . Được không ?
Hổ gật đầu . Nói rồi hoẵng chuồn thẳng , nó ba chân bốn cẳng chạy tót lên núi cao . Còn hổ thì sấn tới bãi phân trâu , ngoạm ngay một miếng thật to và nuốt chửng vào bụng : “ Bánh trái gì mà hôi thối tởm lợm thế này ? Thôi đúng là phân trâu rồi !”.
Hổ nghĩ . Nó cố sức nôn oẹ ra nhưng không được . Biết mình đã bị con hoẵng con lừa cho một vố đau , hỗ căm tức lắm , nó gầm lên :
-Ta ăn sống nuốt tươi mày bây giờ …
Nhưng con hoẵng khôn ngoan đã ở tận đầu tận đâu rồi .
CHIẾC THẮT LƯNG CỦA SU-LE-MAN
Đánh lừa được hổ ngu ngốc rồi , hoẵng con nhởn nhơ đi lại kíêm ăn trong rừng – nó quên khuấy chuyện hổ sẽ đi tìm nó để trả thù . Bỗng nó ngữi thấy mùi hôi khét của hổ lẫn quất đâu đây . Hoẵng biết là dù có vắt chân lên cổ mà chạy cũng không kịp , nên nó bèn nghĩ kế thoát thân . May thay , ở gần đó có một con trăn to lớn đang cuộn tròn ngũ say như chết . Hoẵng liền chạy đến ngồi trên mình con trăn . Vừa lúc , hổ từ bụi cây đi ra . Nhìn thấy hoẵng . Hổ gào lên :
-Giờ thì mày có chạy đằng trời !Mày tưởng đánh lừa tao mà được à ? Nhưng hoẵng vẫn tỉnh như không:
-Này anh hổ , chớ có ăn nói bậy bạ như thế . Ban nãy anh cứ nằng nặc đòi ăn bánh của thần Su-le-man chứ tôi có xúi dại , nài ép anh đâu . Tự anh ăn thì anh phải chịu chứ oán trách gì tôi . Này , anh đừng có lại gần đây , tôi đang canh giữ chiếc thắt lưng cho ngài Su-le-man đấy .
Vốn tính tham lam , cái gì cũng muốn vơ vào mình , cái gì cũng muốn nhúng mũi vào , hổ ta bỗng thèm được thắt thử chiếc thắt lưng vừa to vừa óng ánh kia vào người một lúc .
-Cho ta ướm thử chiếc thắt lưng kia một tí nào , hổ bão hoẵng .
-Không được – hoẵng nói – thần Su-le-man không cho phép đâu . Tôi canh giữ cho thần mà còn chẳng được thử lần nào nữa là anh …….
Hổ xám đến gần dỗ dành hoẵng :
-Thần Su-le-man ở xa thế chẳng nhìn thấy đâu . Nào , cho ta ướm thử vào chiếc lưng một tí tẹo thôi rồi ta đi ngay
-Thôi thì tôi cũng chìu lòng anh – hoẵng ra vẻ nhún nhường –nhưng có làm sao thì anh cũng đừng có tức tối như bận trước đấy nhé . Nào để tôi tránh ra chổ khác cho anh thắt .
Vừa nói hoẵng vừa chạy ra xa rồi thừa cơ lĩnh mất vào thung lũng um tùm cây cối . Trong lúc đó , hổ lên gân lên cốt cố sức gỡ bằng được con trăn đang cuộn tròn trên đất và quấn quanh bụng mình . Thấy động mạnh , con trăn tỉnh dậy , nó thít chặt bụng con hổ lại và đớp liên hồi vào rốn hổ . Vừa thất kinh , vừa đau đớn , hổ vùng chạy , hết phóng lên đồi lại lao xuống lũng , mãi sau con trăn mới chịu buông tha nó . Hổ mệt quá , nó nằm vật ra thở hồng hộc , bụng bê bết máu . Thế là hổ lại bị con hoẵng khôn ngoan lừa cho một vố nữa
HỔ THỔI SÁO
Một hôm , hoẵng mãi kiếm ăn trong rừng , chiều xuống lúc nào không biết . Quay về nhà thì không kịp , nên hoẵng loay hoay tìm chổ trú qua đêm . Vừa hay nó nhìn thấy một cái cây to bị đỗ nghiêng vì bão . Cái cây này lại đè lên một bụi tre làm nhiều thân tre bị gẫy gập . Lần theo cây đổ , hoẵng tìm được chổ ngủ vừa cao vừa kín đáo .
Cũng vào lúc ấy , hổ đi tìm mồi qua gốc cây mà hoẵng đang nằm . Hổ nhìn lên thấy con hoẵng con đã chơi khăm mình mấy vố thì mừng rơn ; nó chắc phen này hoẵng chẳng chạy đâu cho thoát . Còn hoẵng ngửi thấy mùi hôi khét của hổ thì nó tỉnh dậy ngay và nghĩ kế thoát thân . Nó ra vẻ kẻ cả hỏi hổ :
-Thế nào , anh hổ ? từ sáng đến giờ đã kiếm được tí gì chưa mà nom thiểu nảo thế . Giá anh đến đây sớm hơn có phải tôi đã đãi anh được một bữa rồi không ?
Hổ nghe hoẵng nói thì ức lắm nhưng cũng chỉ gầm gừ trong họng . Được thể hoẵng lại bịa
tiếp :
-Thôi anh có định đi đâu thì đi cho kịp đi , đêm nay tôi phải ngủ lại đây trông cây sáo trúc của thần Su-le-man . Vừa nói hoẵng vừa chỉ cho hổ thấy cây tre bị gẫy gập .
-Chà chà , anh mà nghe được tiếng sáo này thì sướng phải biết . Nghe hoẵng tán tỉnh hổ lại nổi tính tò mò , nó bèn năn nỉ .
-Hoẵng ơi , ta cũng thích thổi sáo lắm ! trông sáo cho thần hẳn hoẵng cũng biết thổi chứ ? Hoẵng xuống đây bảo ta cách thổi với .
Thấy hổ đã bắt đầu mắc mưu mình , hoẵng lại càng đủng đỉnh :
-Khoan đã , đi đâu mà vội anh hổ . Anh trèo lên đây đi ! Thế , ngồi thế được rồi . Khi nào tối hẵn thì mới tập được .
Hỗ sốt ruột nhưng cũng phải chờ . Trời vừa tối thì hoẵng bảo :
-Anh có nhìn thấy lỗ sáo không ? Đây anh lè lưỡi thật dài ra và đặt lưỡi sâu vào cái khe
này .
Con hoẵng ranh ma xúi con hổ lách cái lưỡi vào cái thân tre bị dập rồi nói :
-Bây giờ tôi xuống dưới đất để gọi gió thổi về đây thì sáo mới kêu được .
Hoẵng nhảy xuống đất và cầu xin thần gió thổi nghiêng ngả cây rừng .Chẳng bao lâu gió
bắt đầu nổi lên mỗi lúc mỗi mạnh .Gió thổi làm thân tre lắc lư , vặn vẹo . Mỗi lần như thế mãnh tre dập lại nghiến đi nghíên lại cái lưỡi của hổ . Hổ đau đớn quá , nó rống lên thảm thiết nhưng không làm sao rút lưỡi ra được . Máu từ trong mồm hổ chảy ra ùng ục , nó lấy hết sức dẫy dụa . Nhưng đã muộn quá rồi , những mảnh tre dập sắc hơn dao đã cứa đứt đôi lưỡi hổ , nó lăn ra chết ngay lập tức . Thật đáng đời con hổ độc ác mà ngu si











