12 CON GIÁP

KINH NGHIỆM NUÔI TRÂU, CHỌN TRÂU CỦA DÂN GIAN CA DAO

Trâu là một loại gia súc gần gũi và có ích đối với công việc nhà nông . Người nông dân
thường nói “con trâu là đầu cơ nghiệp” . Đối với họ , trong cuộc sống hàng ngày có ba việc quan
trọng ngang nhau :
Tậu trâu lấy vợ cất nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay!
Con trâu được người nông dân quý trọng “trâu he (gầy) cũng bằng bò khoẻ”, nên khi mua
cũng phải chọn lựa những con trâu thuộc giống khoẻ :
“Mua trâu chọn giống
cưới gái lựa dòng”
Nói về sinh lợi , thì người dân quê thích nuôi trâu cái, vì trâu cái sinh sản nhiều :
“Ruộng sâu , trâu nái”.
Nếu ruộng sâu là mảnh đất tốt để người nông dân trồng lúa hai vụ mà không sợ thiếu
nước , năng suất bội thu thì trâu cái chẳng những giúp việc cày bừa thuận tiện mà đem đến cho
họ lợi tức về sanh sôi nảy nở nữa . Cho nên ca dao có câu :
“Muốn giàu thì nuôi trâu nái.
Muốn lụn bại thì nuôi bồ câu”
Tuy nhiên , dù đực hay cái về mặt kỹ thuật chăn nuôi vẫn phải lựa cho được trâu tốt , trâu
tơ vì đó là thời kỳ con trâu sung sức nhất , làm lụng dẻo dai nhất :
“Trâu năm sáu tuổi còn nhah
Bò năm ,sáu đã tranh cõi già ”
Và ở những nơi ruộng đồng đầy nước lầy bùn , nhất là vùng đồng Chiêm , họ khuyên :
“Đồng Chiêm xin chớ nuôi bò
Mùa Đông tháng giá bò rò làm sao”
Việc lựa chọn trâu bò không chỉ dựa vào tuổi tác mà còn phải chọn đến khả năng mà tính
nết của nó nữa , Theo kinh nghiệm của nông dân, hình dáng của một con trâu tốt :
“Sừng cánh ná , dạ bình vôi, mắt ốc nhồi
Mồm gàu dai, tai lá mít , đít lồng bàn”
Còn những con trâu sừng không cân đều, mắt lại nhỏ khi mua nên tránh :
“Xa sừng mắt lại nhỏ con
Vụng đàn, chậm chạp, ai còn nuôi chi”
Người nông dân thích nhất là những con trâu dễ nuôi , ăn nhiều vì ăn nhiều mới có sức
khoẻ để cầy bừa “Mồm gàu dai nhai hai nhánh cỏ ”.
Nếu gặp loại trâu có bàn chân to quá , có đuôi dài quá “cỡ thợ mộc”, đó là những con
trâu vụng về , cần phải tránh xa kẻo mang “nợ”:
“Chân to , bàn nặng kéo cầy làm sao?
Lại thêm tiền thấp , hậu cao
Đuôi chùng quá gối đi nào được đâu!”
Còn những con trâu có đầu nhẹ, mặt gân guốc, chân khô cứng thì lại là trâu đáng “đồng
tiền bát gạo”:
“Đầu thanh cao tiền thấp hậu thì đậu liền tay”
Hoặc :
“Khô chân gân mặt đáng tiền mua”
Những vết tích trên thân thể con vật, người nông dân cũng chú ý đến . Vì họ cho rằng
những dấu tích này có liên quan đến sức khoẻ con trâu . Theo nông dân con trâu có mõm đen ,
gọi là trâu “hàm chiến” , chính là loại trâu dữ “Trâu hàm nghiến mất tiền bồi thường”.
Con trâu nào đã hàm nghiến thì có thêm đốm vàng , gọi là “nghiến chẩm” thì lại càng
nguy hiểm hơn nữa . Loại trâu này đã khó nuôi lại hay húc vặt . Trâu nào lưỡi đỏ lại có nhiều
chấm tím gọi là đốm hoa cà , không có lợi cho người chăn nuôi .
“Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà
Vểnh sừng, tóc chớp , cửa nhà không yên”
Khi nhìn thấy đốm trắng xuất hiện nơi đầu hoặc ở đuôi trâu , họ bảo :
“Đốm đầu thì nuôi
Đốm đuôi thì thịt”
Cái xoáy con trâu cũng được nhà nông rất chú trọng trong lúc chọn lựa . Nếu xoáy ở giữa
trán ngay với đuôi mắt là xoáy tam tinh , còn ở đuôi trâu lại có thêm đốt trắng nữa , đích thị là
trâu dữ đừng mua :
“Tam tinh khoá sọ thì chừa
Đốm đuôi sát chủ thì đưa vào
Hoặc qua chăn nuôi nông dân còn có kinh nghiệm : “Trâu trắng đi đâu , mất mùa đến
đấy”
Những kinh nghiệm về việc chọn lựa trâu bò ở nông dân rất nhiều , chúng ta không thể
nào đoán hết được . Đây chỉ là một số tiêu biểu để chứng minh tầm quan trọng trong việc nuôi
trâu bò của người nông dân mà thôi .
Tuy rằng các bậc cao niên miền quê đã đúc kết thành những kinh nghiệm để lại trong ca
dao , nhưng thỉnh thoảng họ vẫn bị lầm “hàng giả ” vì các tay lái buôn xảo trá . Bởi vậy người
nông dân cũng phải cảnh giác .
Lái trâu , lái lợn , lái bè
Trong ba “lái” ấy chớ nghe anh nào
Ngày nay, nhiều vùng nơi nông dân vẫn còn nuôi trâu bò để kéo cầy . Mặt khác do trình
độ sử dụng cơ giới còn hạn chế và ruộng vườn phân bố , phân thưa còn hẹp chưa thuận tiện cho
việc dùng máy móc nên trâu bò đối với nhà nông vẫn là con vật chủ yếu cần thiết trong nông
nghiệp .
(Theo LÊ NAM ÍCH)
 

TRUYỆN CỔ TÍCH VỀ CON TRÂU GỐC TÍCH CÁI NỐDƯỚI CỔ CON TRÂU
(Truyện dân gian Việt)


Ngày đó con trâu cùng nói một thứ tiếng với người . Nhờ thế người dùng lời nói để sai
khiến con vật theo ý muốn của mình rất tiện . Cũng nhờ thế, những gã mục đồng đối với trâu
không dám đánh đập tàn tệ hoặc cho ăn thiếu thốn vì sợ trâu mách chủ .
Vào hồi đó có một người làm ruộng nuôi một con trâu cày, đồng thời cũng thuê một cậu
bé để chăn con trâu ấy .
Người và vật lúc đầu rất tương đắc . Nhưng sau rồi hai bên bất bình với nhau . Cậu bé
này tính ham chơi nhiều khi quên mất phận sự của mình làm cho trâu nhiều lúc chả được miếng
gì vào bụng . Có bữa vì say mê một cuộc đánh khăng hay đánh đáo , nhưng lại sợ trâu ăn lúa ,
cậu ta đã cột trâu lại một nơi không cho ăn . Những lúc đó, để che mắt chủ , hắn đã dùng một
mẹo là lấy mo cau áp một lớp vào bụng con vật , rồi chát đất bùn ra ngoài . Cứ như thế hắn dắt
trâu về chuồng . Chủ nhà nhìn thấy bụng trâu căng lớn tướng tỏ ý hài lòng mà không căn vặn gì
nữa . Nhờ mẹo ấy , cậu ta đã lừa được chủ nhiều lần nhưng cũng nhiều lần làm cho trâu rất tức
tối
 

Một hôm cậu bé mãi chơi quá . Hội khăng vui đáo để làm cho hắn quên mất cả . Nhưng
trâu thì nhịn từ trưa đến chiều . Trâu gọi mãi nhưng hắn ta nào có để ý đến . Buổi chiều hôm ấy
trâu định mách chủ nhưng hắn khôn ngoan dùng lời lấp liếm không cho trâu có dịp mở miệng .
Buổi sáng hôm sau , người chủ dắt trâu ra cày ruộng . Trâu cố làm ra bộ bước không
muốn nổi . Chủ gắt :
-Nào có đi mau lên không . Đồ lười !
Trâu trả lời:
-Không phải lười mà tại đói.
Chủ hỏi tiếp :
-Thế nào ? Ngày nào mà thằng bé chả cho mày ăn một bụng no căng.
Bấy giờ trâu mới vạch mặt :
-Cưỡi trâu ra đánh khăng đánh đáo, cưỡi trâu về nói láo trâu no . No gì mà no : trong mo
ngoài đất sét . Ỉa cái phẹt hết no .
sự giả dối của cậu bé chăn trâu vì thế bại lộ . Ngay buổi trưa hôm đó người chủ vội lột
những cái mo đầy bùn dưới bụng trâu vừa đánh cho hắn một trận mê tơi . Hắn đau ê cả người .
Nhưng trâu thì rất hả hê và từ hôm đó ngày nào cũng được ăn no lại được tắm sạch sẽ .
Qua mấy ngày sau, những chổ bị đánh hãy cong sưng húp , cậu bé ngồi trên bờ ruộng giọt
ngắn giọt dài. Trong khi đó trâu ung dung ăn cỏ . Bỗng dưng có một ông lão hiện ra sau lưng ,
hỏi cậu bé vì cớ gì mà khóc . Hắn chỉ trâu mà nói : “Tại nó cả . Vì nó mách chủ …..” Đoạn hắn
kể lại cho ông nghe hết đầu đuôi .
Oâng lãc nghe xong dỗ dành cậu bé và nói : “- Ta rất thương con gặp phải chuyện không
may . Bây giờ con muốn gì ta sẽ làm cho con vui lòng” . Hắn đáp : -“Vì nó biết nói làm cho con
phải đòn . Bây giờ chỉ muốn làm thế nào cho nó không thể nói được nữa” . Ông lão bảo : - “Khó
gì việc đó . Ta sẽ có phép làm cho con vừa ý ”. Ông lão bèn rút trong người ra một cây hương
đốt lên thư phù vào trâu , rồi bất thình lình ông lấy cây hương đó dí vào dưới cổ con vật . Trâu cố
giẫy giụa nhưng không kịp . Trâu kêu lên oai oái khản cả cổ . Tiếng nói của trâu dần dần mất
hẳn . Cuối cùng lúc nào muốn nói trâu chỉ còn phát ra một tiếng “nghé….. ọ” mà thôi . Chỗ bị
thương sau thành một cái sẹo như cái nốt ruồi , từ đó trâu không nói được nữa . Cả dòng dõi nhà
trâu sinh ra cũng đều không biết nói và cũng đều mang cái nốt ở dưới cỗ cho mãi đến ngày nay
 

TRÂU VÀ NGỰA
(Truyện cổ H’rê)
Vào một buổi chiều nắng đẹp, trâu đang gặm cỏ trên bìa rừng , thì một anh chàng ngựa từ
đâu lếch thếch đi đến , Ngựa lễ phép thưa:
-Chào anh trâu, ở đây nhiều cỏ non !
Trâu ngừng gặm cỏ, ngẩng đầu lên nhe hai hàm răng sắc trắng cười :
-Anh ngựa đấy à ! Đi đâu về mà mồ hôi, mồ kê dữ vậy ?
Ngựa thở dài lắc lắc bộ sừng xinh xắn :
-Vừa đưa người về , đói quá đến xin ăn ít cỏ mật .
Rồi ngựa kể cho trâu nghe chuyện của mình , và trách ông trời sao thiếu công bằng .
Ngựa chẳng lội bùn , lội nước như trâu như vậy mà chẳng ngày nào kịp ăn no nửa bụng . Suốt
ngày nhong nhỏng đưa người trên đường dài . Trâu thở dài tỏ vẻ thương cảm tình cảnh của ngựa
. Ngựa nói tiếp
-Số tôi không may , đi đêm, đi ngày, chông gai vất vả ước gì được bộ hàm răng như anh
để lúc dừng chân giữa đường tranh thủ ăn miếng cỏ thì sung sướng biết bao . Tôi có bộ sừng
nhọn xinh xắn này nếu anh chịu , tôi xin đổi lấy bộ hàm răng xinh xắn của anh ……..
Để thuyết phục trâu thêm , ngựa còn đưa ra lý lẽ rằng : Trâu làm việc tại chỗ , lại hay
vào rừng một mình nên gặp kẻ ác như loài cọp beo chẳng hạn mà có sừng như ngựa thì bất tiện
biết bao , còn ngựa thì lúc nào cũng đi với người trên đường trường , có sừng chỉ thêm cồng kềnh
vô ích ,
Nghe ngựa nói có lý quá , trâu lại thở dài . Sau hồi suy nghĩ trâu cười đồng ý .Ngựa vui
mừng ra mặt . Trâu cũng vui vẻ dứt bộ răng trên của mình cắm vào miệng ngựa .
Từ đó trâu mất hàm răng trên nhưng lại được đôi sừng nhọn xinh xắn . Nhờ bộ sừng đó
trâu đã chống đỡ được nhiều kẻ thù hung ác, mà trước kia mình phải cúi đầu hàn phục .
Còn ngựa có được bộ răng chắc chắn kia , dù bận mấy cũng nhá được cỏ , đường dài
thêm dai sức .
Ngày nay, cọp năm mười hoạ mới vớ được trâu . Thường thì cọp bị trâu dùng sừng nhọn
hút lòi ruột , bể đầu mỗi khi cọp tới đe doạ nhà trâu .
Ngược lại ngựa mới thoáng thấy bóng cọp đã vội trốn chui trốn rúc vào bụi rậm , hai
chân sau đá liên tục lên trời .
 

THỎ ,TRÂU RỪNGVÀ CỌP
(Truyện cổ BaNa)
Một hôm, thỏ đến nơi ở của một con trâu rừng vừa to vừa dữ nhất . Gặp trâu thỏ nói :
-Này anh trâu , chẳng hiểu anh có mắc nợ gì nhà con trâu rừng một sừng nhọn hoắc ở
dưới suối kia không mà cả vợ , cảcon, cả hắn ngồi chửi anh nheo nhẽo suốt ngày . Hắn bảo nếu
anh không sợ hắn thì cứ đến gốc cây to ở giữa suối này mà trọi nhau xem ai thắng .
Thấy trâu rừng đỏ mắt , sôi gan nóng máu rồi thỏ lại sang gặp trâu rừng một sừng , rồi
cũng xúi như vậy . Tức quá, hai con trâu nọ nhận lời thách , hẹn nhau đến một gốc cây để đọ sức
. Thỏ đứng xem , lúc gà nước bên này , lúc mớm nước bên kia . Hai con vật hung ác đã lấy sừng
đâm nhau , lòi cả ruột cả hai lăn quay ra chết .
Mùi hôi xông lên nồng nặc , biết là cọp đến thỏ chống tay vào hông, đứng đợi . Cọp đến
thật , thấy thỏ cọp giơ nanh vuốt định vồ . Thỏ bình tỉnh , cười , nói lớn :
-Này thịt của tao ít ỏi mày ăn không bỏ bèn gì đâu .Tao cho mày ăn thịt hai con trâu rừng
hung ác nhất , tao vừa giết xong đó . Cọp ngoảnh lại, thấy hai con trâu to kềnh nằm chết , rất lấy
làm sợ thỏ . Khi cọp đã ăn xong, thỏ rủ cọp đi chơi . Cọp ngoan ngoãn nghe theo ngay . Đến cuối
rừng gặp một chiếc bẫy , thỏ lén đến tháo lẫy , rồi ngồi trên cánh cung đu đưa như ngồi trên một
chiếc võng . Cọp thích chí mon men đòi thử . Thừa lúc cọp quay đầu đi nơi khác , thỏ gài lẫy lại
như cũ rồi bảo cọp đến mà ngồi . Cọp vừa đặt đít vào , cánh cung bật lên , mấy chiếc lao nhọn
hoắc phóng vút ra , chỉ tí nữa thì cọp toi mạng . Cọp hầm hầm chạy đi tìm thỏ để trả thù thì gặp
thỏ đang ngồi gật gù dưới bụi tranh , có vẻ đắc trí . Nghe tiếng kêu “vu vu ,ò ò, xẹp xẹp……” rất
êm tai , cọp quên giận hỏi :
-Uûa mày làm gì lạ thế?
Thỏ giương đôi mắt đáp lại :
-Tao đương đánh chiêng đây , chiêng này chỉ trời mới có thôi , kêu hay lắm , nghe mê
mẩn đi được ! Vừa nói , thỏ vừa lấy tay gõ rất nhẹ vào miệng tổ ong vàhát : “ Ti ri, ti ri
…” hoà theo tiếng ong kêu .
Thích quá , cọp lại gần gạ gẫm :
-Thỏ bạn chơi nhiều rồi , bây giờ đến lượt tôi chứ !
Thỏ gãi đầu gãi tai , tỏ vẻ miễn cưởng , đứng dậy , rồi bước đi xa . Cọp bắt chước thỏ
cũng ngồi vào giữa bụi tranh , xoè tay vỗ vào miệng tổ ong . Tổ ong vỡ , ong bay loạn xị , đen
mù , xông vào đốt cọp . Cọp đau nhức nhói khắp mình mẩy , gầm thét đuổi theo ăn thịt thỏ . Gặp
một phiến đá lớn , giữa đường , dưới chân đá lại có một cái hang nhím đào kín đáo , thỏ liền bẻ
mấy cành là-xà ( loại cây có quả giống như quả mơ , ăn ngọt ) vứt trên đá , rồi nhanh nhẹn chui
vào hang . Cọp đang bị ong đốt , thấy mấy cành xà là bỏ sẵn trên đá , liền cầm lấy cành lá quất
lấy quất để . Đàn ong , con thì bay đi , con thì chết . Cọp ta mệt lữ về ong , ngồi gần hang nhím
nghỉ một lát . Thỏ luồn trong hang nhìn và gọi : “ bơ có , bơ có ”( cọp , cọp ) . Cọp nhìn xuống
không thấy ai lại ngẩng lên . Cọp ngẩng lên , thỏ lại gọi nữa : “ Bơ có , bơ có !” Cọp lại nhìn
xuống , chẳng thấy ai cả . Lần thứ hai , lần thứ ba , lần thứ năm , lần thứ sáu , đến lần thứ bảy ,
nghe tiếng “ bơ có , bơ có ”, cọp nhìn kỹ dưới hang không thấy vật gì cả , chỉ thấy hai hòn dái
của mình , tưởng là một con vật lạ đang trêu mình , cọp nỗi giận , giơ vuốt bứt mạnh . Dái đứt …
máu chảy như suối , cọp lăn ra chết .
Trừ được cọp rồi , thỏ về làng với Dá Pôm (1) , giúp Dá Pôm làm rẫy , bắt cá (2).
HÀ BẮC , HỒNG HẢI sưu tầm , biên soạn
(1)Dá Pôm : người già goá chồng , tốt bụng .
(2)Truyện thỏ và hổ , thỏ và voi còn nhiều tình tiết rất giống truyện : con thỏ tinh khôn
của Khơ me
Như lúc hổ bị thỏ lừa , nằm dưới hố sâu để tránh trời sụp … Không tài nào lên được , sau
hổ nhờ voi bẻ cây bỏ xuống cho cạn hố , hổ lên được .
Lần khác hổ đi cõng tranh về lót ổ cho vợ đẻ , hổ gặp thỏ bèn nhờ thỏ buộc hộ tranh lên
lưng cho chặt . Buộc xong , thỏ nhảy phắt lên lưng ngồi chễm chệ , và doạ với các con vật khác
là hắn ta cưởi hổ đi chơi . Các vật khác thấy uy quyền của thỏ ta sợ xanh mặt . Cưỡi lưng hổ
chán , thỏ ta lấy lửa bỏ giữa kẹp tranh và nhảy xuống , biến mất . Lửa bắt tranh , cháy bùng lên ,
làm hổ bị sém cả lưng …
Đoạn thỏ phỉnh hổ chơi tổ ong nói là đàn ,kè lưỡi vào , hai cây tre khô kẹp nhau dối là
thổi sáo … cũng giống như truyện thỏ đã kể trong truỵên cổ Tây Nguyên ( do Đổ Thiện , Ngọc
Anh … biên soạn ) và trong truyện dân gian Việt Nam của tổ văn học dân gian Viện Văn học (
tập III)
 

GIAI THOẠI VĂN HỌC CHUNG QUANH CON TRÂU
 

HÁT BỘI TRÁCH NGƯỜI ĐÁNH CHẦU ÍT
Trong một đám hát bội , có ông cầm chầu tính hẹp , không hay đánh trống thưởng cho
diễn viên khi hát hay . Hai diễn viên bèn bảo nhau ra đóng một lớp hề , một người giả làm chủ ,
một người giả làm đầy tớ . Đầy tớ đi cày về , chủ nhà hỏi cày được bao nhiêu . Nó thưa chỉ được
ít đường , chủ nổi hung , mắng nhiếc nó biếng nhác , thì nó nói :
-Cày ít , có phải tại tôi sao ? Con trâu nó đi tới đâu thì tôi cày tới đó ! Chớ phép tôi vác
nó đi được sao ?
-Vậy sao mày không đánh cho nó đi mau ? Cái da trâu là ông cha gì mà mày sợ không
dám đánh ?
Mặt trống chầu bịt bằng da trâu . Ông cầm chầu biết hề trách mình ít đánh chầu thưởng ,
đỏ mặt bừng lên .


TRÂU GIÀ VÀ CÁ GÁY ( CÁ CHÉP )
O hảo là người làng Đơi , con một gia đình giàu có sang trọng nhất vùng hai huyện Lệ
Thuỷ , Quảng Ninh ( Quảng Bình) nên dân làng đều gọi Hảo là cô . Cô Hảo say mê hò khoan
giã gạo lắm . Mặc dù gia đình ngăn cấm rất ngặt nghèo , nhưng ở đâu có đám hội ho økhoan là cô
cũng tìm đến . Cô Hảo có “đôi mắt lá răm , đôi mày lá liễu” đám trai làng bảo thế nên ai cũng
muốn đựơc ghép đôi hò với cô . Trong đám hội hò hôm ấy , có một anh chàng mặt mũi đen đũi
xấu xí . Anh cứ tìm cách bắt chuyện cặp đôi hò đối đáp với Hảo . Hảo bực mình , quyết làm cho
anh ta bẽ mặt rút lui khỏi đám hội hò . Hảo tấn công :
Người ( mô) đâu như quỷ như ma
Như một nhà cháy , như da thuồng luồng
Tưởng chàng trai bẽ mặt , nhưng trái lại , anh ta chỉ mỉm cười mà cất giọng hò sang sảng
Cô như cá gáy hoa hồng
Tui như trâu già nằm đất , ăn cỏ đồng ỉa ra .
Bọn hò khắc cối đều đặn , giòn giã…
Và cũng cất cao giọng xố “ ơi là.. hố nơ ” như la tiếng cười khoái chí
Chả là cá chép ăn phân trâu mà lại …
Mặt cô Hảo đỏ bừng lên . Té ra người ngượng sùng , tẽn tò lại chính là cô
 

KIỀU DẠY TRÂU
Có chàng thư sinh vốn tự phụ về tài văn chương xuất sắc của chính mình . Nhất là “ món
” truyện Kiều thì anh ta sành sỏi lắm . Một lần dạo trên đường thấy cô gái đang cày dưới ruộng
mười phần xinh đẹp , anh ta bèn ướm thử một câu :
Đến đây hỏi thực Thuý Kiều
Chớ có thương Kim Trọng ít nhiều chi không ?
Không ngờ cô gái đi cày kia cũng là tay cứng . Cô mỉm cười nhìn lên , vẫn cứ đánh trâu
đi tới , nói với :
-Anh giỏi Kiều đến thế kia à ? Nếu thật tình anh có lòng với em , thì anh thử đọc một câu
Kiều cho con trâu em đứng lại . Em sẽ có thời giờ nói chuyện với anh
Anh học trò mừng lắm :
-Tưởng gì chứ thế thì dễ như chơi . Cô xem đây này
Trong vòng tên đạn tơi bời
Thấy Từ còn … đứng ! Giữa trời trơ trơ .
Anh ta thét mạnh khi đọc đến chữ đứng . Nhưng ác thay , con trâu vẫn cứ cắm cúi đi .
Tưởng trâu nghe không rõ , anh đọc lại câu thơ khác :
Tần ngần đứng ! Suốt giờ lâu
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà .
Con trâu vẫn chẳng kịp nghe lời . Cô gái thấy vậy , cười phá lên , bảo rằng :
-Anh thuộc Kiều đấy ,nhưng hình như anh không quen thuộc việc cày bừa cho lắm nên
anh không hiểu tiếng nói trâu nghe . Anh xem đây này .
Cô gái vẫn cầm vững đường cày , đọc :
-Đội trời … đạp đất ở đời
Họ ! Từ tên Hải vốn người Việt Đông .
Quả nhiên con trâu đứng lại ngay . Cô gái thấy anh ta sượng sùng bèn khuyến khích :
-Có thể là lúc nãy vội vàng , anh nhớ không kịp . Bây giờ con trâu em đã đứng lại , nhờ
anh đọc một câu cho nó đi đi .
Anh chàng quyết gỡ liền cái thẹn lúc nãy , bèn đọc ngay :
Nàng rằng phận gái chữ tòng
Chàng ơi ! Thiếp cũng quyết lòng xin đi !
Lần này thì con trâu đi thật , nhưng nó đi đến đầu bờ lại đứng lại . Anh ta đọc tiếp luôn :
Rẽ ! cho để thiếp bán mình chuộc cha
Mặc dù anh cố nhấn mạnh và kéo dài tiếng “ rẽ” , con trâu cũng chẳng nhúc nhích tí nào
. Anh đọc thử đến lần thứ hai mà vẫn vô hiệu . Cô gái vừa buồn cười , vừa thương hại , mới bảo :
-Anh bảo nó rẽ , nhưng nó biết rẽ ngã nào . Nào bây giờ em đã cày đến chỗ này , thế tất
phải rẽ trâu sang bên phải . Đáng lẽ anh phải đọc câu này chứ :
Trộm nghe kẻ lớn trong nhà
Ở … trong phép tắc ! nói ra mối giường
Vừa nghe tiếng “tắc”, con trâu đã ngoan ngoãn quay đầu bên phải ngay . Anh chàng biết
mình tuy chữ nghĩa làu làu nhưng không gắn bó với nghề nông nên đã hai lần thất bại . Để dàn
hòa với cô gái , anh ta cố ôn lại trong khoảnh khoắc công việc đồng áng của bố mẹ ở nhà, rồi
ngập ngừng hỏi :
-Phải , phải ! Tôi quên mất đi , thế mà bây giờ muốn cho nó đi về phía bên trái thì đọc
câu thơ này có được không cô ?
Một vùng cỏ mọc xanh … rì !
Con trâu đang đi bỗng như muốn xoay mình trở lại . Cô gái cũng khen thầm anh chàng
chân thành học hỏi , liền gật đầu :
-Đúng đấy ! “ Đạp” đi , “ họ ” đứng , “tắc” là rẽ phải , “rì ” là bên trái ! Như thế mới
đúng phép điều khiển trâu đấy anh ạ !
 

MƯỢN TRÂU LỠM CỤ THIẾU
Chuyện xảy ra ở làng Đồng Xâm ( Kiến Xương , Thái Bình ) các hào chức sắc trong làng
đang tề tựu đón quan Thiếu Bảo Hoàng Trọng Phu nhân có dịp đi qua , ghé vào hiểu dụ .
Giữa lúc ấy , phía ngoài sân đình , trên bãi cỏ rộng , ông khóa T.lùa con nghé đực chưa
hoạn của mình ra chổ đã có sẵn con trâu cái đang gặm cỏ . Cái trò nghé động đực thấy cái là lăn
vào . Con rượt , con đuổi , loăng quăng giữa đám cỏ rộng . Bọn trẻ con và một số dân làng thấy
hay hay , quay dồn cả lại , cười đùa ầm ĩ át cả tiếng cụ lớn trong đình . Khoá T . ra bộ cuống
quýt , cầm roi chạy theo nghé và quát lớn :
-Đồ bậy bạ , đồ quỷ quái ! Dám dở trò trước mặt cụ lớn à ?
Vừa đủ hai con trâu , ông vừa vung roi đen đét , lại thét bọn trẻ con dạt ra cho trâu chạy .
Ông khéo léo đuổi trâu cho trâu chạy vòng sát vào gần thềm đình . Dân chúng sợ trâu chạm vào
chân , cũng vội vàng tránh né xô đẩy . Cuộc tập trung nghe hiểu dụ hoá ra một đám đông nhốn
nháo , lộn xộn chẳng còn tư thế . Bọn quan lại và lý lịch tái mặt , vội sai tuần đinh đuổi trâu , và
lôi Khoá T. vào một góc đình định trói lại .
Khoá T. vùng vằng không chịu . Oâng cố lôi cả bọn hương chức đang túm chặt lấy mình
vào chỗ thằng Hoàng Trọng Phu đang đứng mà kêu ca ầm ĩ :
-Dạ , cụ lớn đèn trời soi xét . Cụ lớn vừa dạy điều nhân nghĩa thế mà bây giờ chúng tôi
lại bị hành hạ vì chuyện vô nghĩa thế này , quả là trái ngược , xin cụ lớn phân xữ cho .
Quan “ Thiếu ”chưa kịp nói gì thì khoá T. lại tiếp :
-Dạ bẫm nguyên do chỉ tại con nghé này bị lòng dục nó xui khiến . Điều đó là do trời sinh
ra, chúng ta làm sao có kiến thức biết phải trái , hay dở , chọn chỗ , chọn giằm được ạ? Bắt chủ
nó phải chịu tội cho nó thì oan ức quá !
Tất nhiên là bọn chức dịch có muốn gây thêm chuyện cũng chẳng có lý gì , mà “ cụ lớn ”
bề trên cũng chẳng thích kéo dài trò này cho thêm rối rắm liền xua tay cho lui . Được thế khóa
T. vừa đi vừa đọc to :
Con trâu là vật vô tri
Phạm điều vô lễ , can gì chủ nuôi ?
Cả làng được một bữa cười khoái chí . Có người nói :
-Hai câu bác vừa đọc hay lắm đấy . Giá mà bác lam được cả bài thì thú biết bao nhiêu .
Khóa T. cười :
-Tôi đã làm sẵn cả bài rồi đấy chứ ? Tại chúng nó cứ ẩy tôi đi chứ mà trù trừ một lúc nữa
thì đọc ngay
Rồi ông cất giọng đọc liền một mạch :
Hôm qua quan Thiếu về làng
Quyền cao chức trọng quan sang thứ này .
Ngực lấp lánh mề đay Tây gắn ,
Miệng hùng hồn đọc bản đít cua.
Sân đình nào trống nào cờ ,
Thật là sang trọng , thật là oai nghiêm .
Con nghé đực vốn quen vô lễ ,
Thấy nghé non khó gỡ được ra .
Giữa sân giở chuyện trăng hoa,
Làm rối trật tự thật là tội to .
Xin quan lớn tha cho chủ nó,
Loài vật kia nào có biết gì .
Nghé nom chẳng đáng chấp chi ,
Phạm điều vô lễ , can gì chủ nuôi .
Chẳng bao lâu , bài thơ của khoá T. trên đây trở thành bài vè đựơc lưu truyền không chỉ ở
làng Đồng Xâm mà ở cả phủ kiến Xương nữa .
( Theo kho tàng giai thoại Việt Nam )
 

TRUYỆN HỨA DO – SÀO PHỦ VÀ CON TRÂU
( Truyện dân gian Trung Quốc )
Trong kho tàng chuyện cổ tích Trung Quốc , chủ đề ca ngợi đức độ của những vị cao sĩ
không có chuyện cổ tích nào hay bằng chuyện Sào phủ –Hứa Do
Truyện kể rằng : vua Thuấn muốn truyền ngôi cho Sào Phủ là bậc cao sĩ thời cổ . Sào
Phủ nghe thấy bẩn tai quá , bèn ra sông Dĩnh Thuỷ rửa tai . Khi ấy vừa lúc Hứa Do dắt trâu đi
qua , thấy thế hỏi đầu đuôi . Sào Phủ kể chuyện vua Thuấn muốn nhường ngôi cho . Sào Phủ
thấy chuyện này bẩn tai quá , bèn đi rửa tai . Lúc đó , trâu của Hứa Do muốn vục xuống sông
uống nước . Hứa Do bèn vội vã dẫn trâu đi , không cho uống nước nữa , vì sợ cáai bẩn ở tai Sào
Phủ vấy bẩn cả khúc sông sẽ làm bẩn cả miệng trâu của ông
 

VỊ TƯỚNG CỠI TRÂU
Trong trận đánh giặc Nguyên Mông trên sông bạch đằng , Trần Hưng Đạo cỡi voi qua
sông hoá , không may voi bị sa lầy . Hưng Đạo đành phải xuống voi . Nhưng bùn rất rục , voi
càng nặng càng bị lún sâu . Quân lính xúm tay ra sức kéo voi lên mà không được . Con voi này
đã từng đưa Trần Hưng Đạo xông pha trận mạc , cùng sống chết có nhau . Có lẽ nào voi lại nằm
ở đây ? Có lẽ nào voi không cùng đánh giặc trận này ? Hưng Đạo Vương nghĩ thế và ông động
viên quân lính cố đẩy voi lên … Cuối cùng voi đành ở lại
Ngay lúc đó , có một chú bé chăn trâu chạy đến thưa với vị tướng : “ Bây giờ voi không
đưa ngài qua sông được nữa , xin Ngài cỡi lên trâu của cháu , cháu sẽ giong trâu bơi qua ”
Trâu Hưng Đạo nhìn chú bé , mỉm cười gật đầu và tự nói với mình : “ Đây là một ý hay ”.
Ông bảo : “ Cháu bé giỏi lắm . Thế thì cháu ngồi trước , ta ngồi sau ” . Ông lại bảo : “ Cháu phải
ngồi trước thì mới cầm giây thừng giong trâu bơi được chứ ” . Chú bé nghe lời . Đoàn quân sung
sướng nhìn vị tướng và em bé cưỡi trâu qua sông . Trần hưng Đạo quay lại nhìn con voi bị sa lầy
, ứa nước mắt và nói : “Đến ngày ta thắng trận sẽ dựng tượng voi và cả tượng con trâu này bên
bờ sông ”
 

LUÂN VỀ KẺ CHĂN TRÂU
Đào Duy Từ vào nam , những ngày đầu tiên chưa tìm đựơc người giúp đỡ , phải đi ở chăn
trâu . Một hôm dắt trâu qua cửa một vị tướng , nghe tiếng đọc sách và bàn luận , liền buộc trâu
lại đứng nghe . Viên quan cho gọi và hỏi :
-Anh có biết chữ không ?
-Thưa , tôi vừa được nghe các ngài bàn về nho quân tử và nho tiểu nhân , tôi lấy làm thú
vị lắm .
-Thế anh hiểu thế nào là nho quân tữ , nho tiểu nhân ?
-Thưa ngài , về nho tôi chưa được rõ . Tôi đi chăn trâu , chỉ xin nói về kẻ chăn trâu . Có
kẻ chăn trâu quân tử , có kẻ chăn trâu tiểu nhân cũng như các ngài nói về các nhà nho vậy .
Chăn trâu tiểu nhân là những kẻ dắt trâu ăn cỏ ngoài đồng , tối ngày là về , không nghĩ ngợi lo
lắng gì cả . Còn kẻ chăn trâu quân tử là những người ôn tài , luyện trí , chưa gặp dịp nên phải
tạm theo việc để sinh nhai đó thôi . Sử sách ngày xưa không hiếm gì người chăn trâu quân tử .
Nịnh thích làm tướng nước tề , Bách Lý Hề làm tướng nước Tần , trươc đều là kẻ chăn trâu cả
đấy .
Vị tướng thấy lời lẽ như vậy , đoán ngay đây là một nhân tài , liền báo với chúa Nguyễn ,
dùng lễ mời Đào Duy Từ ra giúp rập , tạo nên cơ nghiệp ở sứ đường trong .


TẾT KHÔNG ĂN THỊT TRÂU
Một phú ông giàu có , ngoài hàng trăm mẫu ruộng , còn có một đàn gia súc lớn .
Năm hết Tết đến , phú ông không biết mổ lọai con gì để gia đình vui xuân , hết đãi bạn
bè . Phú ông ra trại chăn nuôi .
-Ta sẽ giết mày để ăn tết . phú ông dứ dứ con dao bầu vào đầu con trâu mộng đang nhai
cỏ .
-Ơ hay ! Tôi là đầu cơ nghiệp , nay ông muốn thuê người cuốc hay bỏ ruộng hoang ?
Phú ông chỉ vào con chó thiến doạ mổ .
-Được thôi ! Nhưng kẻ trộm vào nhà khiêng ông đi , ông có chịu không ?Sao không mổ
ngựa ?
-Số phận tôi trong tay ông . Tuỳ ông nhưng có lẽ ông cưỡi bò thăm ruộng thăm thú bạn
bè chăng ?
Phú ông phân vân , ông nào cũng có lý cả , sực nhớ ra đàn lợn . Mấy chú lợn đang ngủ
ngáy phì phò . Phú ông quyết ngay :
-Lợn ăn xong chỉ có ngủ khì , vô tích sự , liền sai giai nhân chọc tiết mổ thịt ăn tết . Thịt
lợn vừa béo lại vừa làm được nhiều món : giò , nem , ninh , mộc , không có mùi hôi , nhất là
món lòng luộc , tiết canh chiều ba mươi tết thì chỉ có nhất , không con nào có được .
Từ đó đến nay , mỗi lần ăn tết trở thành một phong tục ở nước ta .
NGUYỄN TÂN HOÀ
 

TRÂU THIẾN NGỰA CƯƠNG
Đoàn nhà trai đi xin dâu , bên nhà gái ra câu đối :
Nhà ngói , cổng liêm , ruộng sâu , trâu đực thiến
Câu ra cũng bình thường , muốn khoe sự giàu có , nhưng lại hàm cái ý trêu ghẹo hơi sổ
sàng . Chẳng rõ ông đồ phù rễ trong đàn nhà trai tên họ là gì , học hành tới đâu , nhưng , ông đã
nắm được cái ý trêu trọc của đối phương .Ông bà cho chàng rễ đối lại
Yên bạc , dạc vàng , đường nhựa , ngựa rong cương .
Vậy là nhà trai muốn tỏ ra rằng , bên nhà gái khoe dầu , thì bên nhà trai khoe sang .
Nhưng ý ngầm còn … tai quái hơn . Sợ người ta không hiểu nổi , ông đồ để cho chú rễ dứt lời ,
vội cười ầm lên rồi bình luận bô bô :
-Hay , hay lắm , quan họ bên kia bắt thiến , nhưng quan họ bên này vẫn cứ cương lên .Có
phải không các ngài?
 

CHIẾC Ô TÔ TRỊ GIÁ 700 CON TRÂU
Một cụ già thất thập niên hết ngồi lại đứng , hết ngắm lại sờ, vuốt ve chiếc TOYOTA ,
mặc cho đứa cháu điệu sau lưng giãy dụa . Lúc sau ông hỏi lái xe :
-Chiếc xe này bao nhiêu tiền hả con ? Anh lái xe đưa tay đút túi , nhìn ông già một lúc
sau trả lời :
-Bảy , tám trăm triệu đồng bố ạ! Bố có mua không ?
Nghe anh lái xe nói vậy , cụ già bước lùi ra xa không sờ vào xe nữa . Lúc sau ông lại hỏi
:
-Phà ơi ( trời ơi ) sao mà nhiều tiền thế ! Nó có đi nhanh không ?
-Đi nhanh lắm , gấp nghìn lần cưỡi trâu đi họp .
Ông già lẫm bẫm hồi lâu nói :
-Nếu bố có 700 con trâu , bố sẽ mua xe như con …
Năm Sửu
&VĂN NGHỆ SĨ TUỔI SỬU
mà tôi biết
NGUYỄN THUỴ KHA
1-Nhà thơ Hoàng Trung Thông – Ất Sửu (1925)
Ngày xưa chưa gặp Hoàng Trung Thông , tôi đã hát vang : “Các anh đi hát ngày
ấy đã lâu rồi – xóm làng tôi còn nhớ mãi ……” và đọc ầm ĩ : “bàn tay ta làm nên tất cả – có sức
người sỏi đá cũng thành cơm ” . Rồi học thuộc lòng : “Em hát nữa đi – anh phải về hội nghị –
ngày mai em nghỉ – trên cánh đồng này – ngang qua anh thấy – em lái máy cày ” . Một cái gì
thơ mộc nhưng gợi nên sâu sắc trong lòng tôi một nhận thức về nhà thơ – ông đồ xứ Nghệ này .
Và tuổi nhỏ của tôi gợn lên “những cánh buồm ” qua giai điệu Hoàng Vân : “Những cánh buồm
như những cánh chim nâu – Bay khắp chân trời góc biển ”
Bữa tôi cũng ngồi uống rượu với Hoàng Trung Thông đầu tiên là bữa viện văn học hội
thảo về văn học Nga – Xô viết nhân kỉ niệm 65 năm Cách Mạng Tháng Mười . Đêm ấy , góc
gác nhà tôi chật những bạn bè . Ông Thông uống rượu như một tửu đồ đến mức thiền . Càng
uống , những ý tư tưởng mới lạ vụt ra ở những thần hứng của ông . Và thế là chúng tôi thành bạn
rượu vong niên của nhau . Khi thì quán Tiên Điền , khi thì ở nhà bà béo 91 bà Triệu , khi lòng
vòng ra cả bà xiếc (quán rượu đối diện rạp xiếc – từ này do Văn Cao đặt ) , khi nhẽ nhàng ngồi
xuống ông Phấn ……Lúc này uống rượu với ông Thông thường thấy rất vui . Lúc nào uống cũng
thấy đầy tâm sự của một người luôn luôn phải đứng giữa thu xếp giữa cường quyền và nhân thế .
Ông Thông có gì rất gần với Lục Du . Ông dịch Lịch Du rất hay .
Những năm đổi mới đất nước lại là những năm ông Thông rời chiến trường về hưu . Từ
nhà ông bên số chẵn Ngô Quyền , ông thường sang đường vào quán bà Bích ở số kẻ kề lộ văn
hóa thông tin . Chiều nào đón con gái tan ở trường Võ Thị Sáu , tôi cũng ngồi uống nhâm nhi vài
ly với ông .


Những năm gần cuối đời , do sức khoẻ , ông Thông không dám sang đường nữa . Bởi vậy
ông cũng đành bỏ quán bà Bích , ông Thông chọn quán khác ở đường Trần Hưng Đạo để từ nhà
ông đi men vỉa hè Ngô Quyền đến ngỏ quẹo trái là tới quán 41 của đường Trần Chí Thăng . Ở
đây , ông đổi tên quán là Trúc Viên bởi vì ông thường nhập tủ dưới một khóm trúc . Nhờ sự hiện
diện của tiên chỉ Hoàng Trung Thông . “Trúc viên chi quán ” được hình thành từ bạn bè . Và sau
khi tập thơ “mời trăng ” cuối cùng của Hoàng Trung Thông ấn hành thì tập “Trúc viên thi quán ”
cũng ngay lập tức ra mắt bạn đọc và được hâm mộ .
Bây giờ quan Trúc viên không còn nữa . Chỗ ấy người nước ngoài đã mua . Bây giờ
Hoàng Trung Thông cũng không còn nữa . Nhưng ông không bị ai mua . Ông vẫn là ông đồ xứ
Nghệ và một lưu linh ở bên xứ kia .
2-Nghệ sỹ Quý Dương –Đinh Sửu (1937)
Sinh năm Sửu sau Hoàng Trung Thông một giáp , từ một học sinh hát ở hợp ca Thăng
Long ,Quý Dương nhanh chóng cùng với Trung Kiến , Trần Hiếu tạo nên một “tam giác giọng ca
vàng ” sau tam giác Quốc Hưng – Trần Khánh – Trần Thụ . Và bài ca mà chàng trai ngõ Lương
Sử – Hà Nội hát rất hay thời đó là bài “những cánh buồm ” của Hoàng Vân phổ thơ Hoàng
Trung Thông . Với chất giọng nam trung dòng Ben-can-to, Quý Dương đã tham gia nhiều vai
diễn , hát nhiều Aria trong “núi rừng hãy lên tiếng ”. Có Sao ………
Cuộc chống Mỹ ập đến , Quý Dương đã làm vang lên bao giai điệu hào hùng của một
thời không thể nào quên được . Nào là đào công sự , bài ca cầu phao …. Nào là tôi đang nghe rõ
lời anh , xe ta đi trong đêm Trường Sơn ………và đặc biệt là khúc hát đảo quê hương . Không hiểu
sao một trường ca như thế mà qua giọng hát Quý Dương , những người lính chúng tôi thuộc lòng
cho tới bây giờ . Biết bao cảm động khi nghe anh ca : “Bạch long vỹ ơi ! quê mến yêu muôn đời
, đảo quê ta đẹp sao – nắng tươi cùng sóng chan hoà –Phù Chân Thuỷ xưa tối tăm nay đã bừng
sáng ….Khi chiều về thoảng bay qua trong nắng hoàng hôn ….” Và đêm B52 trút xuống Hà Nội ,
chúng tôi mím môi căm giận khi nghe Quý Dương cất lên : “đêm nay Hà Nội vang ầm tiếng
súng . Lửa từ ngàn năm tung bay – Lửa hận thù B52…”
Tôi thật sự thân thiết với Quý Dương khi anh cùng nhóm bạn hữu Nhà hát vũ kịch Việt
Nam xây dựng đêm nhạc Văn Cao và trình diễn liên tục hơn 60 đêm ở Hà Nội , Hải Phòng và
các tỉnh phía Bắc . Những đêm ấy , Quý Dương thêm một lần khẳng định mình qua đàn chim
Việt và nhất là Thăng Long hành khúc ca . Khi Quý Dương reo vang : “Thăng Long !Thăng
Long !Thăng Long thành ” có cảm giác như câu hát không bật ra từ thanh quản mà vọt thăng từ
trái tim .
Điều buồn nhất là khi thân nhau nhưng Quý Dương uống ít quá . Ca sĩ còn giữ giọng mà .
Nhưng anh rất thích nhìn tôi uống !Có khi qua sân 51 , chẳng có việc gì , anh cũng kêu tôi ra rồi
kêu bia ở quán anh Minh . Anh cười : Anh thích nhìn một thằng tuổi Trâu (tôi tuổi Kỷ Sửu 1949
mà ) giống anh mà lại là tửu đồ uống say sưa như em .”
3-Ca sỉ Thùy Dung – Quý Sửu (1973)
Thùy Dung vốn là học sinh pianô ở học viện Hà Nội , song do vài lần hứng khởi hát chơi
, do khuyến khích của bạn bè , Thùy Dung mạnh dạn bước lên sàn diễn . Và thế là cuộc đời có
ca sĩ Thuỳ Dung . Cái độc đáo của Dung là cô có những tiết mục hát tự đàn . Nhiều bài hát của
nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như :Văn Cao , Hồng Đăng ,Trịnh Công Sơn , Phú Quang , Trần Tiến ,
Nguyễn Cường …. Được Dung thể hiện như thế .
Dáng vẻ cao ráo , nét đẹp xinh đẹp của Thùy Dung làm cho khá nhiều chàng trai trồng
cây si ở mọi góc đất nước . Song đến bây giờ , Dung vẫn là một cô gái tự do . Sau khi ra trường ,
Thuỳ Dung được giữ ở lại lớp làm cô giáo . Không biết đến mùa xuân tuổi thứ 24 này , cô giáo
Thùy Dung đã định thành gia thất với ai chưa ?
Chúng tôi vừa gặp nhau tại đêm nhạc Trịnh Công Sơn ở Hải Phòng . Vẫn được Thùy
Dung duyên dáng , quyến rũ trên sàn diễn . Vẫn là Thùy Dung tíu tít telephone hẹn giờ đưa đón
. Cứ vui đi Thùy Dung , còn duyên kẻ đón người mà .
Có lẽ vì là con nhà bưu điện , Thùy Dung đã có ý thức về mạng thông tin rất sớm . Dung
thuộc loại ca sĩ đầu tiên có điện thoại riêng . Không biết khi có mạng internet , Thùy Dung còn
giữ được vị trí đầu bảng hay không .

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net