12 CON GIÁP
CON TRÂU TRONG NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG
CHU QUANG TRỨ
Trong lịch sử can chi đã quen dùng ở Đông Phương thì theo chu kỳ giáp khép kín với 12
con số , số thứ 2 là Sửu tượng trưng bằng con trâu . Giờ sửu là từ 1 đến 3 giờ đêm là thời gian
yên tĩnh nhất , mọi người ngủ say ,nhưng con trâu lại thức lặng lẽ nhai lại . Tháng sửu là tháng
chạp , “trâu ra mạ vào” để rồi cả xã hội hân hoan đón tết . Trong 12 con vật thời gian , trâu là
con vật to nhất và cũng là con vật khoẻ nhất , người mang tuổi trâu thì dù sinh vào ngày tháng
nào cũng có bọc kín tất cả , thường được may mắn .
Trâu là con vật sớm được thuần hoá . Với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước , trâu được
người nông dân coi như bạn thân , họ nựng : “trâu ơi ta bảo trâu này…….” Họ coi “con trâu là đầu
cơ nghiệp ” và cái mơ ước lớn nhất là có “Ruộng sâu trâu nái” . Có lẽ về lẽ sống nhân dân ta
cũng nghĩ : “Trâu chết để da, người chết để tiếng ” .
Chẳng những ca dao tục ngữ có nhiều câu nói về trâu mà trâu là nhân vật trong nhiều
tryện kể thú vị như “Trâu vàng Hồ Tây”, “Trí khôn của người ”, “Ngưu lang chức nữ”….Trong
truyện “Lục súc tranh công”, trâu không có tính xấu nào dù bị bạc đãi vẫn giúp người làm ra
của cải , còn các con vật khác thì qua lời tố cáo nhau thể hiện đầy những tính xấu .
Ngay trang đầu của nghệ thuật Việt Nam , trâu đã xuất hiện bên cạnh người . Khi xã hội
nguyên thuỷ chuyển từ thời đồ đá cũ sang thời đồ đá mới , cách nay chừng một vạn năm , trên
vách hang Đồng Nội thuộc nền văn hoá Hoà Bình đã được khắc to mặt con thú ăn cỏ bên cạnh
nhóm 3 mặt người . “Con thú ăn cỏ” với cặp sừng cong, cánh mũi lớn , mắt to miệng rộng gợi ta
nghĩ đến con trâu . Tiếp đó khi bước sang thời đại đồ đồng , cùng với sự nghiệp đổ bộ ngày càng
sâu vào đồng bằng thì sức kéo của trâu bò trong cuộc khẩn hoang ngày càng được khẳng định nó
trở thành con vật thiêng liêng trong tâm thức mọi người . Nếu dân tộc học còn tục đâm trâu ở
Tây Nguyên còn những khau khút sừng trâu cách điệu ở đầu nóc nhà người Thái , còn lễ hội trọi
trâu của người Việt ………thì khảo cổ học đã tìm thấy ở những buổi đầu dựng nước nhiều tượng bò
– một dạng trâu màu vàng về sau có nghĩa là “Hoàng Ngưu ” ,đặc biệt là ở di chỉ Đình Chàng có
tượng đầu trâu bằng đá , dù chỉ cao gần 2cm nhưng vẫn rõ đặc trưng con vật
Tượng trâu bằng đá ở chùa Kim Ngưu (Bắc Ninh ) là tượng trâu to bằng con nghé (dài
102cm, ở thế nằm cao 88cm), có thể từ thời Bắc thuộc , được tạc theo khối mảng lớn của ngôn
ngữ điêu khắc, tuy còn thô phác song thực thà đến thuần khiết .
Vào đầu thời độc lập nhưng chưa thống nhất , con trâu đi vào chuyện Đinh Bộ Lĩnh rũ trẻ
mục đồng tập trận cờ lau , giết để khao quân , cắm đuôi vào lỗ nẻ , nói với chú thím là trâu chui
xuống đất để cả nhà kéo bị ngã bổ chừng . Bộ Lĩnh bị đuổi phải chạy , được rồng vàng cõng qua
sông , đã báo hiệu sự nghiệp dựng nước huy hoàng . Những trích đoạn hồn nhiên trên đã được
nghệ sĩ dân gian thể hiện thành tranh để ngày tết mọi người truyền kể cho nhau .
Rồi đến thời Lý đất nước độc lập và thống nhất vững vàng , đạo phật trở thành quốc giáo
, thì ở chùa Phật tích (Bắc Ninh) dựng năm 1057 có cặp tượng trâu to bằng trâu thực , được tạo
trên đài sen ở sân trước chùa, mảng khối căng mập , hình rất thực và sống động biểu hiện nét
đẹp cổ điển mẫu mực .
Sang thời Trần ở lăng vua Trần Hiếu Tông (Quảng Ninh) các tượng bị xáo trộn và mất
mát nhiều, song vẫn còn một tượng trâu nằm dài 103cm, 56cm, là vật hiến tế nhưng được tạc
nằm ở tư thế tự nhiên , quay đầu về một bên mảng khối dung dị .
Đặc biệt vào thời Lê Trung Hưng , trong trào lưu phát triển mạnh của nghệ thuật làng xã
với các chùa , đình thì con trâu trở thành hình chạm trang trí khá phổ biến . Chùa Bút Tháp (Bắc
Ninh) dựng năm 1647 lang can đá ở thượng điện và tháp Bảo Nghiêm đều có hình chạm nổi . Ở
bức này con trâu nằm thảnh thơi gác đầu lên lưng , sang bức khác con trâu quỳ xuống những
xoáy nhỏ dữ dội , quay đầu về nhìn mặt trời . Con nào cũng được chạm rất nuột . Ngay đến chiếc
khánh đá chùa Nam Sơn (Bắc Ninh) tạc năm 1672, ở diềm dưới cả hai mặt đều có hình trâu bên
cạnh khác trong băng hoa dây . Rồi đến tấm bia đá chùa Cảnh Phúc (Nam Hà), dựng năm 1695
(hiện bày ở sân bảo tàng nghệ thuật Hà Nội) , trong nhiều ô trang trí những con vật khác nhau
cũng có một ô chạm con trâu nằm nghỉ tự tại như đang tóp tép nhai lại . Cũng khoảng thời gian
cuối chóp thế kỷ XVII , trên cốn gỗ chùa Hoa Long (Thanh Hoá) lại có người trong dáng đạo sĩ
cưỡi trâu , có lẽ là Thái Thượng Lão Quân trong đạo lão . Nhiều đình làng dựng vào thời gian
trên như đình Thổ Tang (Vĩnh Phú) có cảnh trâu kéo cày cùng hiện diện với nhiều cảnh ngộ vui
trong ngày hội, nó đông vui ồn ả……Rồi đình Liên Hiệp (Hà Tây) lại chạm cảnh trọi trâu rất căng
thẳng , hai con trâu đều choải người ngoắc sừng ghìm đầu nhau các mảng khối căng phồng .
Cảnh này thường xảy ra trong nhiều hội làng , nay còn thấy ở hội Đồ Sơn (Hải Phòng) như có
liên quan đến tục thờ trâu gắn liền với sông nước của ngư dân và nông dân .
Cả bia tiến sĩ ở Văn Miếu nghiêm trang của nhà nước , cũng trang trí hình trâu , trên
diềm của tấm bia chạm năm 1653 đối diện với cảnh đầu hiền là cảnh cày tịch điền có ba lớp :
cận cảnh là con trâu xoay ngang , đứng yên đĩnh đạc , một bên chân co lên, đằng sau nó là hai
viên quan mũ cao áo dài chững chạc , chắp tay thi lễ nhìn xuống con trâu , lớp sau cùng là chiếc
cày chỉ còn hở nửa trên . Rõ ràng đây là biểu hiện của xã hội trọng nông mà trâu là “nhân vật ”
số một .
Nhưng vui hơn cả là những hình con trâu trong loại hình tranh tết , có ở các dòng khác
nhau đặc biệt là Tranh Đông Hồ hầu như nhà thường dân nào cũng có . Nếu bức “Nghỉ ngơi sau
buổi bừa” chỉ vẽ nét con trâu gắn bó với người lao động mệt nhọc mà vẫn thanh thản, thì thú vị
phải là cặp tranh “Em bé chăn trâu ” dám đăng đối như lối chơi câu đối : nền chanh thường bức
này đỏ cam còn bức kia vàng chanh – những gia đình có tang thường chơi nền trắng ngà, nhưng
dù nền màu gì thì đều trên cơ sở quét diệp tạo những thớ vân thâm hành đậm nhạt óng ả, lại lấm
tấm những hạt diệp lấp lánh như bầu trời sao . Bức dán bên tay phải người xem vẽ em bé trải
chiếu trên lưng trâu có cài mấy bông hoa biểu hiện mùa thu , em nằm giữa thả chiếc diều no gió
căng phồng như cái hòm , con trâu quay đầu lại quay đầu xem tranh . Phía trê đầu trâu tham gia
vào bố cục cho tờ tranh đầy đặn có hai hàng dọc của câu Nhất rương phúc lộc điền mang ý nghĩa
Cánh diều no phúc lộc (chữ rương còn đọc là tương thụ hay tướng ) , ở đây gắn bó hòm gió .Bức
bên trái người xem là vé đối , vẽ em bé cưỡi con trâu đang bước thủng thẳng , nghểng đầu vểnh
tai nghe tiếng sáo do em bé ngồi trên lưng trâu do em bé đang chú tâm thổi .Lưng trâu còn vắt
bó sen có cả hoa và nụ , cả hai lá to và lá còn phong cuộn , là biểu hiện của mùa hè . Em bé
dựng một lá sen xoè rộng che trên đầu như chiếc lọng , phía trước ở trên đầu trâu có năm chữ
cũng thành hai hàng dọc Hà diệp cái thanh thanh mang ý nghĩa Lọng sen che xêng xang . Chăn
trâu mà như quan trạng vinh quy , thật sướng lắm chứ !
Những con trâu xưa dù chạm trên đá , gỗ hay vẽ trên giấy chúng rất thực cũng như rất hư
trong cuộc sống nó “làm thật ăn giả” nhưng trong nghệ thuật nó luôn luôn có một chân giá trị ,
mà do đó chẳng những xưa mà cả nay vẫn rung động mỹ cảm mọi người . Nói về năm sửu và
thâm nhập họ hàng nhà trâu nghệ thuật cũng kể nhiều thú vị .
CẶP TRANH TẾT EM BÉ CHĂN TRÂU
Chu Quang Trứ
Hình ảnh con trâu khá phổ biến trong nghệ thuật tạo hình xưa . Chúng ta có thể gặp nó
được chạm trên đá , trên gỗ của nhiều dình chùa , cũng được vẽ trên một số tranh cổ , đặc biệt là
trên một số tranh tết . Trong tranh tết Đông Hồ con trâu ngoài việc làm nhân vật phụ ở một số
tranh truyện như cờ lau tập trận , công việc nhà nông , nghỉ ngơi sau buổi cầy ……..thì còn là đồng
nhân vật chính trong Em bé chăn trâu . Hai tờ tranh trước năm 1945 khá quen thuộc với mọi gia
đình nông dân , ngày nay cũng rất quen thuộc với các nhà nghiên cứu các nhà sưu tầm và những
ai thích chơi tranh dân gian .
Tranh Đông Hồ còn được gọi là tranh Diệp vì tờ giấy đó dai, mịn nhưng mỏng và màu
ngà gần với màu vách đất nên không tiện cho in tranh , phải quét lên một lớp diệp giã nhỏ
nhưng còn nhiều hạt , được trộn với hồ cho dày lên , sáng trắng dịu với những thớ vân song hành
có độ sắc khác nhau , tạo sự xôm xốp có cả chiều sâu và bề rộng , lại anh ánh những diềm sáng
như bầu trời sao . Tranh Đông Hồ nền trắng diệp vốn là tranh gốc vì thế các nghệ nhân của
dòng Kim Hoàng luôn in tranh trên giấy hồng điều hoặc giấy tàu vang tự nhận là tranh đò và
gọi tranh Đông Hồ là tranh trắng . Nhưng rồi để cho màu nền phong phú và hợp với không khí
Tết đầm ấm , vui tươi bừng và sự hiển vinh , các nghệ nhân Đông Hồ quét thêm nước gỗ vang
cho màu đỏ cam hoặc nước hoa hoè cho màu vàng chanh . Về sau có người còn “cải tiến ” cho
thêm phẩm hoặc thay bằng nước vỏ cây cho một số màu khác nữa . Khi đã có ít ra 3 loại màu
nền (trắng ngà , đỏ cam và vàng chanh ), những người chơi tranh có ý thức thẩm mỹ và tâm linh
luôn chọn tranh nền màu đỏ hoặc vàng để trang trí nhà ngày tết , tranh nền trắng thường dành
cho những gia đình có tang .
Trở lại cặp tranh em bé chăn trâu , theo thói chơi tranh tết dán theo bộ đăng đối nhau
cùng tiến vào giữa , thì tờ tranh ở mảng tường bên trái được gọi là Em bé chăn trâu thả diều , còn
tờ tranh đối lại là em bé chăn trâu thổi sáo .
Cách gọi tên tranh như thế chỉ là “trông mặt đặt tên”. Các nghệ nhân xưa không đặt tên
cụ thể để người xem trông hình mà gọi , nhưng ở hai bức tranh này vốn xưa có ở mỗi bức một
câu chữ , do đó những người sinh thường lấy đó làm tên tranh . Câu chữ ở bức thả diều nhất là
NHẤT RƯƠNG PHÚC LỘC ĐIỀN và ở bức thổi sáo là HÀ DIỆP CÁI THANH THANH . Năm
chữ cắt thành hai hàng dọc không chỉ nói lên ý tứ của hình tượng mà còn tham gia vào bố cục
của tranh . Với người chơi tranh là nông dân hầu hết không biết chữ , đã mấy ai đọc được và
ngay cả khi đọc được thì cũng thật ít người hiểu được thâm ý . Vì thế giá trị của những dòng chữ
này trước hết- cơ bản là làm cho bố cục tranh được trọn vẹn , đầy đặn như ước mơ đầu xuân của
mọi người .
Dán ai tờ tranh tết thuộc một bộ phải như treo hai vế của một câu đối , có bức 1 và bức 2
như vế ra và vế đối . Ở bộ tranh chăn trâu này phần chữ cả hai đều tận cùng bằng chữ thuộc vần
bằng tức thuộc vế đối , nhưng vì cả nghệ nhân và người chơi tranh đều rất hạn chế trình độ văn
học , nên câu đối tranh ở đây là theo hình : Hai con trâu ở hai bức tranh phải được dán như từ hai
phía đi vào giữa để gặp nhau , do đó bức thả diều dán ở tay phải người xem , bức thổi sáo ở bên
trái .
Ơû bức tranh 1 : con trâu đang bước chậm rãi đầu quay lại một bên nhìn chính diện , hai
mắt rất sáng, cặp sừng vểnh lên như vầng trăng non : em bé rải chiếu trên lưng trâu giắt theo
mấy cành hoa cúc , mình trần đóng khố nằm ngửa nhìn trời tay phải giữ chặt dây của chiếc diều
no gió căng phồng như cái hòm bay cao phía trên đầu dễ liên tưởng đến một cái lọng , bụng
(chữ Hán Việt là phúc) căng tròn no nê. Ý tưởng của hình được câu chữ NHẤT RƯƠNG PHÚC
LỘC ĐIỀN nói rõ , đối với người nông dân thì đây là Cánh diều no phúc lộc.
Đối lại sang bức 2 : con trâu đi rất nhẹ , ngẩng cao đầu cặp sừng xoay quanh đôi tai nghe
ngóng , trên lưng trâu chở bó sen có cả hoa và nụ có cả lá già xoè rộng và lá non phong cuộn
,nhích về phía mông trâu là em bé mình trần đống khố ngồi xếp bằng vắt vẻo để đuôi khố xoè
rộng ra như tấm đệm hoa , toàn thân nhìn về chính diện nhưng cũng hơi nghiêng về bên phải .
hai tay nâng cao sáo trúc đưa về bên trái biểu diễn rất say sưa, một chiếc lá sen xoè to được
dựng lên làm chiếc lọng xanh thơm che đầu rất sang trọng . Người xem như được nghe cả tiếng
sáo thánh thót mà con trâu là một khán giả chăm chú . Góc tranh phía trên đầu trâu khắc câu
HÀ DIỆP CÁI THANH THANH biểu hiện sự sáng tạo ngộ nghĩnh có lọng se che xêng xang .
Năm chứ Hán viết thành hai hàng dọc , lại tuỳ dị bản mà viết hàng phải trước , hàng trái sau
theo nguyên tắc chữ quốc ngữ để đăng đối về mảng với những chữ ở bức tranh bên kia .
Là tranh thuộc về nghệ thuật không gian , nhưng ở bộ tranh này diễn tả được thời gian và
âm thanh . Bức 1 có hoa cúc biểu hiện mùa thu trời trong cao hợp cảnh thả diều . Bức 2 có hoa
sen là cảnh sắc mùa hạ , chiều hè ôi ả có cái thú tắm hồ sen hái hoa , hóng mát thổi sáo . Nếu
mùa hè thái dương thì sen lại là âm , thì mùa thu thì thiếu âm thì cúc và diều là dương . Từng
bức và cả bộ tranh được vẻ theo triết lý âm /dương đối đãi để phát triển , vút lên theo tiếng sáo ,
tiếng diều .
NHỮNG NĂM SỬU ĐÁNG NHỚ
-Năm Tân Sửu 41: sau thắng lợi rực rỡ của cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ Đông Hán ,
Trưng Trắc cùng Trưng Nhị lên ngôi vua (Trưng Vương) , xây dựng và củng cố nhà nước độc lập
, phong mẹ mình làm Hoàng Hậu , các nữ tướng là Công Chúa, thiết lập thể chế quân chủ nữ
quyền đầu tiên trong lịch sử Việt Nam .
-Năm Ất Sửu 905 : Khúc Thừa Du , một hào trưởng đất Hồng Châu (Ninh Giang – Hải
Dương ), lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa chống nhà Đường , chiếm đánh thành Tống Bình
, tự xưng là Tiết Độ Xứ , xây dựng chính quyền tự chủ , kết thúc về thực chất ách thống trị hơn
1000 năm của các triều đại phong kiến Trung Quốc .
-Năm Ất Sửu 965 : bắt đầu loạn thập nhị sứ quân . Nhờ Đinh Bộ Lĩnh , nạn phân tranh
được hợp nhấtn. Năm 968 người anh hùng quê đất Hoa Lư lên ngôi hoàng đế , đặt tên là nước
Đại Cồ Việt .
-Năm Kỷ Sửu 1049: nhà Lý cho xây dựng chùa một cột (Chùa Diên Hựu )- một công
trình kiến trúc cực kỳ độc đáo , là biểu tượng của nền nghệ thuật quốc gia và tinh thần trọng đạo
thời đó .
-Năm Đinh Sửu 1097 :vua Lý Nhân Tông sai biê n soạn , sữa chữa , cải cách các phép
tắc và định chế chính trị – pháp quyền cũ , làm thành một quyển mới gọi là Hội Điển tạo nên
những tiến bộ lớn trong phương thức tổ chức nhà nước và điều hành mọi quan hệ chính trị .
-Năm Quý Sửu 1253 : Lập Quốc học viện – Trần Thái Tông – Vua đầu nhà Trần (1225-
1358) – hạ chiếu chỉ đắp tượng Chu Công , Khổng Tử , Mạnh Tử.
-Năm Kỷ Sửu 1289 : sau ba lần xâm lược bị thất bại thảm hại (các năm 1258,1285,1288)
đế quốc Nguyên Mông buộc phải thừa nhận tự chủ của nước ta .
-Năm Kỷ Sửu 1289 : Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông (1279-1293) phong
Hưng Đạo Đại Vương lĩnh án tiên phong dẹp giặc Nguyên .
-Năm Đinh Sửu 1397 : Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn điền để điều chỉnh phân
phối ruộng đất giữa các tầng lớp xã hội , hạn chế đặc quyền đặc lợi của giới thượng lưu . Cũng
năm này lần đầu tiên trong lịch sử , thủ đô được chuyển từ Thăng Long vào Thanh Hoá – gọi là
Tây Đô .
-Năm Đinh Sửu 1397 : Trần Nhuận Tông (1388-1398) xuống chiếu quyết định xây dựng
Tây Đô . Triều đình dời về Thanh Hoá.
-Năm Kỷ Sửu 1469 : nhà Lê cho vẽ bản đồ quốc gia với từng khu vực cụ thể , đánh dấu
bước tiến quan trọng trong lĩnh vực hiểu biết xác định , quy hoạch và quản lý lãnh thổ .
Lê Thánh Tông (1460-1497) quy định bản đồ cả nước . Đặt ra 12 thừa tuyên : Thuận Hoá
Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn Nam, Hải Dương, Sơn Tây, Kinh Bắc, An Bang , Tuyên Quang, Hưng
Hoá, Lạng Sơn , Ninh Sóc.
-Năm Tân Sửu 1481 : Lê Thánh Tông cho mở đồn điền .
-Năm Kỷ Sửu 1529: Mạc Thái Tổ (huý Đăng Dung ) truyền ngôi cho con là Mạc Thái
Tông (huý Đăng Doanh ) sau 2 lần làm vua , nhận chức vị Thái Thượng Hoàng .
-Năm Quý Sửu 1673 : sau 45 năm nội chiến ác liệt với 7 cuộc chiến lớn gây bao đau khổ
cho nhân dân chúa trịnh và chúa Nguyễn buộc phải hoà hoãn (lấy sông Gianh giành làm giới
tuyến) và tích cực kiến thiết lại đất nước .
-Năm Đinh Sửu 1697 : dưới triều Lê Hy Tông (1676-1705) soạn xong bộ sách Quốc sử
tục biên thực lực .
-Năm Tân Sửu 1721 : Nguyễn Công Hãng dưới triều Lê Dụ Tông (1706-1729) hiến
nhiều kế hoạch cải cách đất nước .
-Năm Đinh Sửu 1757 : Mạc Thiên Tích –con Mạc Cửu , gốc người Trung Hoa chống
người Mãn Thanh , chạy sang nước ta đã phong làm chức Đô Đốc , trấn giữ đất Hà Tiên sau
ngày cha chết (1736) có công mở mang bờ cõi nước ta , làm chủ thêm hai đạo Kiên Giang và
Long Xuyên .
-Năm Ất Sửu 1865: tờ báo quốc ngữ Việt Nam đầu tiên (Gia Định báo ) xuất bản số
đầu tiên .
-Năm Ất Sửu 1865: Võ Duy Dương anh hùng chống thực dân xâm lược Pháp , bạn đồng
lòng đồng trí của Trương Công Định (mất năm 1864) lặp căn cứ kháng chiến tại Đồng Tháp
Mười . Cùng năm này Thiên Hộ Dương thắng trận Mỹ và vang danh (tháng 7-1865) .
-Năm Ất Sửu 1925: một năm có nhiều sự tích đáng nhớ của dân ta :
a/Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”của Nguyễn Aùi Quốc – tức chủ tịch Hồ Chí
Minh từ năm 1945 đến ngày người “về” với cụ Mác, cụ Lênin và các cụ Trần Hưng Đạo , Lê
Lợi , Nguyễn Huệ ………..ra đời ở Paris (kinh đô nước Pháp)
b/Nhà cách mạng Phan Chu Trinh sinh năm 1872 tại Quảng Nam , mất năm 1926 tại Sài
Gòn người thủ xướng dân quyền ở nước ta từ Pháp về tổ Quốc .
do những hoạt động yêu nước cụ từng bị thực dân xâm lược Pháp kết án tử hình năm
1908 nhưng sau giảm (!!!) xuống và đày ra Côn Đảo . Bài thơ “Xuất đồ môn tác ” do cụ ứng
khẩu bữa từ Huế “chân xiềng tay xích ” đày ra đảo xa nói lên chí khí anh hùng bất khuất của cụ
:
“Luy luy già toả xuất đồ môn
Khảng khái bi ca thiệt thượng tồn
Quốc thổ trầm luân dân tộc tuy
Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn”
Cụ Huỳnh Thúc Kháng bạn chiến đấu của Phan Chu Trinh cũng từng bị đày ra Côn Đảo ,
về sau là quyền chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà – dịch là :
“Xiêng gông cà kệ biệt đô môn
Khẳng khái ngâm nga lưỡi vẫn còn
Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn.
Thân trai nào sợ cái Côn Lôn”
C/ Đồng bào khắp nước đấu tranh đòi thực dân Pháp thả nhà cách mạng lừng danh Phan
Bội Châu (sinh năm 1867 ở Nghệ An , mất 1940 tại Huế ) bị bắt ở Trung Quốc đưa về giam tại
nhà tủ Hoả lò (Hà Nội) .
-Tháng 6 năm Ất Sửu 1925 Nguyễn Aùi Quốc đến Quảng Châu Trung Quốc tập hợp
những người yêu nước , thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng Đồng Chí Hội – tổ chức tiền
thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
-Năm Kỷ Sửu 1949 quân dân miền Bắc từ thế bị động chuyển sang thế chủ động , tích
cực cầm cự và tạo đà phản công quân Pháp .
-Năm Kỷ Sửu 1949 ta mở các chiến dịch sông Thao và Tây Nguyên . Quân xâm lược
Pháp rút khỏi Bắc Kạn (thị xã đầu tiên do địch chiếm giữ được giải phóng).
Cũng năm này sắc lệnh giảm tô được chính phủ ta ban hành .
-Năm Tân Sửu 1961 bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với những mục tiêu quan trọng
về chính trị quân sự kinh tế văn hoá xã hội.
-Năm Tân Sửu 1961 kế hoạch Xtalây – Taylơ của Mỹ thất bại Chiến thắng thị xã Phước
Thành (chỉ cách Sài Gòn chừng 5km)
-Năm Quý Sửu 1973 hiệp định Paris được kí kết giữa Chính phủ Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hoà , chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam và chính phủ Mỹ , chính phủ
cộng hoà miền Nam theo Mỹ
ngày 27-2 Hội nghị quốc tế về Việt Nam ghi nhận hiệp định này .
-Năm Ất Sửu 1985 : hoàn thành xây dựng cầu Thăng Long và cung văn hoá Việt Xô
những công trình tô thắm tình hữu nghị anh em thân thiết giữa nhân dân, Đảng chính phủ hai
nước Việt Nam và Liên Xô (cũ).











